--------------- <> -----------------
--- KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - GIÁO DỤC - VIỆC LÀM ---
--- Học để đi cùng bà con trên thế giới ---

Tìm kiếm trong Blog

Wireless Network_8_Các hiện tượng (behavior) xảy ra khi truyền tần số vô tuyến

Khúc xạ

Khúc xạ là hiện tượng đổi hướng đường đi (bị bẻ cong) của sóng điện từ (bức xạ điện từ), hay các sóng nói chung, khi lan truyền trong môi trường vật chất không đồng nhất.

Với các môi trường khác nhau, như tường gạch, tường bê tông, gỗ, chất dẻo, sẽ có chỉ số khúc xạ khác nhau.

Chỉ số khúc xạ giúp xác định khả năng xảy ra khúc xạ của môi trường.

Khi bạn đeo kính cận thị, viễn thị…v.v, chính là bạn đang mang một thiết bị khúc xạ. Kính sẽ làm khúc xạ hoặc bẻ cong sóng ánh sáng, giúp ánh sáng phát ra từ vật cần quan sát sẽ tập trung vào đúng vị trí của võng mạc, giúp bạn nhìn rõ vật.

Hình sau đây minh họa hiện tượng khúc xạ.

Như trong hình minh họa ở trên, khi tín hiệu RF bị khúc xạ, cũng có một phần tín hiệu RF bị phản xạ, và một phần tín hiệu RF bị hấp thụ.

Hiệu tượng khúc xạ tín hiệu RF ít xảy ra trong các tòa nhà, mà thường xảy ra khi truyền qua môi trường không khí có các tính chất thay đổi như nhiệt độ, áp suất, hoặc hơi nước. Vì vậy cần quan tâm đến hiện tượng khúc xạ tín hiệu RF trong các liên kết không dây kiểu site – to – site.

Vấn đề cần quan tâm là: nếu tín hiệu RF bị thay đổi hướng truyền so với dự định khi đi từ thiết bị phát tới thiết bị thu, sẽ làm cho thiết bị thu không thể nhận và xử lý tín hiệu. Hậu quả là làm ngắt kết nối hoặc tăng tỉ lệ lỗi truyền. Đặc biệt cần quan tâm tới vấn đề này trong các khu vực thường xuyên có sự thay đổi bất thường về thời tiết.

Nhiễu xạ

Nhiễu xạ là hiện tượng sóng bị thay đổi hướng truyền, hoặc thay đổi cường độ khi sóng đi qua cạnh của vật cản.

Hình sau minh họa hiện tượng nhiễu xạ.

Ở hình minh họa trên, sóng RF đã bị thay đổi hướng truyền, thay vì bị bẻ cong theo hướng đi vào trong hoặc đi ra ngoài vật cản như trường hợp khúc xạ, sóng RF sẽ đi vòng qua vật cản.

Để dễ hình dung, có thể quan sát ví dụ sau, khi ném một cục đá xuống mặt hồ, sẽ xuất hiện sóng lan truyền trên mặt nước, hãy lấy một cái que cắm thẳng xuống mặt hồ và quan sát hình ảnh của sóng lan truyền, sẽ thấy sóng bị bẻ cong quanh cái que, vì sóng không thể xuyên qua được cái que. Que càng lớn sẽ có ảnh hưởng càng nhiều đến sự lan truyền của sóng.

Nhiễu xạ thường xảy ra khi có các vật cản như tòa nhà, ngọn đồi nhỏ, và các đối tượng có kích thước lớn trên đường truyền tín hiệu RF.

Tán xạ

Trong vật lý hạt, tán xạ là hiện tượng các hạt bị bay lệch hướng khi va chạm vào các vật khác.[7]

Tán xạ xảy ra khi tín hiệu RF va đập vào bề mặt không bằng phẳng (bề mặt không đồng nhất), làm cho tín hiệu bị phân tán thay vì bị hấp thụ, làm suy hao tín hiệu RF. Có thể gọi hiện tượng tán xạ là hiện tượng đa phản xạ.

Tán xạ cũng có thể xảy ra khi tín hiệu RF đi qua môi trường có chứa các phần tử vật chất có kích thước nhỏ hơn bước sóng. Trong trường hợp này, rất khó phát hiện ra hiện tượng tán xạ. Một số môi trường gây ra tán xạ gồm: địa hình núi đá, khu vực có nhiều cây lá, khu vực có nhiều lớp hàng rào, khu vực đang mưa, khu vực có nhiều bụi.

Hình sau minh họa hiện tượng tán xạ.

Hấp thụ

Hấp thụ là sự chuyển đổi năng lượng tín hiệu RF thành nhiệt. Hấp thụ xảy ra do các phân tử của môi trường truyền không thể chuyển động nhanh bằng sóng RF.

Ví dụ về hiện tượng hấp thụ.

Các vật liệu có khả năng hấp thụ tín hiệu RF trong dải tần 2.4GHz gồm: nước, tường thạch cao, tường bê tông, gỗ, cơ thể con người.

Hiện tượng hấp thụ được ứng dụng để làm nóng thức ăn trong lò vi ba. Dải tần của sóng điện từ trong lò vi ba là 2.45GHz, công suất phát sóng từ 700 watt đến 1400 watt. Trong khi công suất phát của thiết bị WLAN từ 30milliwatt đến 4 watt.

Hiện tượng hấp thụ còn giải thích cho sự suy giảm của tín hiệu trong hội trường đông người (so với khi không có người) do sự hấp thụ tín hiệu RF của con người.

Mỗi loại vật liệu sẽ có mức độ hấp thụ tín hiệu RF khác nhau, bảng sau cho biết mức độ hấp thụ tín hiệu RF của một số vật liệu. Khi thực hiện các khảo sát hoặc giải quyết các trục trặc liên quan đến WLAN cần phải xem xét tới ảnh hưởng của các loại vật liệu này.

Vật liệu

Mức độ hấp thụ

Tường thạch cao

3 - 5 dB

Tường kính và khung kim loại

6 dB

Cửa ra vào bằng kim loại

6 - 10 dB

Cửa sổ

3dB

Tường bê tông

6 - 15 dB

Tường xây thông thường

4 - 6 dB

Tỉ số sóng đứng điện áp (VSWR)

Sóng đứng (còn gọi là sóng dừng), là sóng tổng hợp của hai sóng có cùng biên độ, cùng tần số nhưng truyền ngược chiều nhau, hiện tượng này có thể xảy ra trong môi trường truyền sóng, khi sóng truyền tổng hợp với sóng phản xạ, có các điểm với biên độ dao động cực đại (gọi là bụng), xen kẽ với các điểm có biên độ cực tiểu (nút). Các bụng và các nút cách đều nhau và đứng yên. Khoảng cách giữa hai bụng (hay nút) liên tiếp bằng một nửa bước sóng. Sóng đứng không truyền năng lượng đi.

Trong hình trên, N là nút sóng, B là bụng sóng. Trong môi trường chất lỏng (ví dụ nước) ở bụng sóng các hạt vật chất chỉ chuyển động theo phương thẳng đứng. Ở nút sóng, các hạt vật chất chỉ chuyển động theo phương ngang vuông góc với hướng truyền sóng.[9]

Hình sau minh họa rõ hơn về sóng đứng.

Tỉ số sóng đứng (SWR-standing wave ratio) là tỉ lệ giữa biên độ tại bụng sóng và nút sóng.

Tỉ số sóng đứng điện áp (VSWR) là một đại lượng dùng để đo tỉ số sóng đứng trên một đường truyền dẫn RF.

Trong lĩnh vực WLAN, trước khi tín hiệu RF được phát ra ngoài bởi anten, nó tồn tại dưới dạng một dòng điện xoay chiều (AC) trong hệ thống truyền. Luôn có hiện tượng suy giảm tín hiệu RF trong hệ thống truyền này. Sự suy giảm tín hiệu trong mỗi loại cáp, đầu nối, và các thiết bị khác là khác nhau. Trong các hệ thống được thiết kế hợp lý thì cũng không thể tránh được những suy giảm này. Tuy nhiên có một tình huống đáng quan tâm hơn, là các loại cáp, đầu nối và thiết bị có trở kháng khác nhau.

Khi cáp, đầu nối, và các thiết bị nằm trong đường truyền tín hiệu RF từ máy phát tín hiệu RF tới anten có trở kháng khác nhau; Ví dụ trở kháng của cáp là 50 ohm, trở kháng của đầu nối là 75 ohm; Sẽ gây ra tín hiệu RF phản xạ, có cùng tần số, biên độ với tín hiệu RF truyền, làm suy giảm hoặc triệt tiêu sóng RF truyền.

VSWR là một tỉ số, được biểu diễn dưới dạng X:1, trong đó 1 là trở kháng lý tưởng, X là giá trị thay đổi. Giá trị của X càng gần về 1, nghĩa là hệ thống có sự phối hợp trở kháng càng tốt. Nếu VSWR có giá trị 1:1 nghĩa là hệ thống có sự phối hợp trở kháng hoàn hảo, không có sóng đứng xuất hiện trong đường truyền tín hiệu RF.

Bảng sau thể hiện một số giá trị của VSWR và ý nghĩa của nó.

VSWR

Ý nghĩa

1.0:1

Hệ thống lý tưởng, không tồn tại trong thực tế.

1.5:1

Phối hợp trở kháng tốt, chỉ có 4% năng lượng bị suy hao.

2.0:1

Phối hợp trở kháng chấp nhận được, có khoảng 11% năng lượng bị suy hao.

6.0:1

Phối hợp trở kháng xấu, có khoảng 50% năng lượng bị suy hao.

10:1

Phối hợp trở kháng không thể chấp nhận, năng lượng bị suy hao gần như hoàn toàn.

vô cùng :1

Không sử dụng để đo trở kháng

Để dễ hình dung về VSWR, hãy xem xét ví dụ sau: có một máy bơm nước được đấu với ống nước A, kích thước của A vừa đủ để truyền lượng nước máy bơm cung cấp, hệ thống sẽ chạy bình thường. Thực hiện đấu ống nước B vào ống nước A, ống B có kích thước nhỏ hơn ống A, trong trường hợp này ống B sẽ gây ra sự không tương thích về trở kháng, hay nói cách khách, ống B không thể truyền hết được lượng nước mà ống A đang truyền. Kết quả là tạo ra áp lực ngược trở lại cho ống A và máy bơm. Trong trường hợp này, sẽ có một số tình huống xấu có thể xảy ra: lượng nước chảy ra tại ống B sẽ nhỏ hơn khả năng thực của máy bơm và ống A, máy bơm có thể bị hư, ống A có thể bị vỡ, khớp nối giữa A và B có thể bị rò rỉ hoặc bị vỡ…v.v. Như vậy, tình huống ít xấu nhất là lượng nước chảy ra tại ống B sẽ nhỏ hơn so với khả năng thật sự của máy bơm và ống A.

--------------------------------

Tham khảo

[1] Trần Nghiêm, 2012, Bản chất của bức xạ điện từ, thuvienvatly.com

[2] website http://www.wi-fi.org

[3] website: http://www.wirelessvn.com

[4] website: http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB

[5] Trần Nghiêm, Lịch sử điện từ học, thuvienvatly.com

[6] http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB#.E1.BB.A8ng_D.E1.BB.A5ng

[7] http://vi.wikipedia.org

[8] Tom Carpenter, 2008, CWNA Official Study Guide, Mc Gram-Hill

[9] http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

Wireless Network_7_Các hiện tượng (behavior) xảy ra khi truyền tần số vô tuyến

Các sóng tần số vô tuyến khi đã được điều chế để chứa thông tin được gọi là các tín hiệu tần số vô tuyến (RF signal). Trong quá trình truyền các tín hiệu này, xảy ra các hiện tượng có thể dự đoán và phát hiện được như: sự gia tăng và suy giảm tín hiệu, phản ứng khác nhau khi gặp các vật thể khác nhau, và có thể bị can nhiễu (interfere) với các tín hiệu khác. Phần sau đây sẽ trình bày 1 số hiện tượng chính.

o Độ lợi (gain)

o Suy hao (loss)

o Phản xạ (reflection)

o Khúc xạ (refraction)

o Nhiễu xạ (diffraction)

o Tán xạ (scattering)

o Hấp thụ (absorption)

o Tỉ số sóng đứng điện áp (VSWR – voltage standing wave ratio)

o Suy hao phản hồi (return loss)

o Sự khuếch đại (amplification)

o Sự suy giảm (attenuation)

o Sự lan truyền sóng (wave propagation)

o Suy hao không gian tự do (free space path loss)

o Đa đường truyền và trễ tín hiệu (multipath and delay spread)

Độ lợi

Độ lợi là một giá trị thể hiện sự gia tăng về biên độ, giữa hai tín hiệu sóng tần số vô tuyến (từ đây gọi tắt là tín hiệu RF). Khuếch đại là quá trình làm tăng biên độ của tín hiệu RF, kết quả là làm tăng độ lợi. Có 2 loại độ lợi: độ lợi chủ động và độ lợi bị động.

Hình sau minh họa về độ lợi và suy hao.

Độ lợi chủ động

Độ lợi chủ động có thể được tạo ra nhờ bộ khuếch đại đặt giữa máy phát tín hiệu RF (ví dụ access point) và anten truyền. Các bộ khuếch đại sử dụng decibel (dB) làm đơn vị đo độ lợi. Ví dụ, một bộ khuếch đại có thể cung cấp 6dB độ lợi cho tín hiệu RF. Để xác định được độ mạnh thực sự của tín hiệu sau khi đi qua bộ khuếch đại, cần phải biết được độ mạnh ban đầu của tín hiệu tại thiết bị phát RF và thực hiện các tính toán (sẽ được trình bày ở chương sau).

Chú ý, khi thực hiện khuếch đại để tăng độ lợi, cần phải tham khảo tới quy định của các tổ chức quản lý về tần số vô tuyến để không vi phạm các ràng buộc về phát tín hiệu. Ví dụ, tại Mỹ, FCC quy định công suất phát tối đa của anten trên các thiết bị kết nối điểm-đa-điểm thuộc dải tần 2.4 GHz là 4 watt.

Độ lợi bị động

Độ lợi bị động là sự tăng biên độ của tín hiệu ở phía sau bộ phát định hướng, được thực hiện bằng việc điều chỉnh độ tập trung, hoặc điều chỉnh hướng của tín hiệu phát ra. Độ lợi bị động có hai loại, loại có chủ ý và loại không có chủ ý.

Độ lợi bị động có chủ ý giống như việc sử dụng hai bàn tay tạo thành hình phễu, đặt trước miệng, khi muốn gọi ai đó ở khoảng cách xa. Trong trường hợp này, bạn đã có chủ ý điều chỉnh hướng của sóng âm về phía người nghe, mà không cố gắng gọi to hơn. Điều này làm cho âm thanh phát ra có thể nghe được ở khoảng cách xa hơn, vì các sóng âm tập trung về phía người nghe nhiều hơn.

Các anten đã được sử dụng để tạo ra độ lợi bị động có chủ ý trong hệ thống mạng không dây sử dụng tín hiệu RF. Các anten sẽ truyền nhiều năng lượng của tín hiệu RF theo hướng mong muốn hơn là các hướng khác.

Độ lợi bị động không có chủ ý xảy ra khi có hiện tượng phản xạ và tán xạ trong một vùng phủ sóng. Khi tín hiệu RF được phát ra từ anten, tín hiệu sẽ được truyền đi theo những thiết lập đã được cài đặt cho anten. Tuy nhiên, tín hiệu này có thể gặp phải các vật cản trên đường truyền làm cho nó bị khúc xạ hoặc tán xạ, điều này sẽ tạo ra nhiều bản sao của cùng một tín hiệu đi tới anten nhận. Nếu các tín hiệu này đến anten mà cùng pha, chúng sẽ làm tín hiệu mạnh hơn, điều này tạo ra độ lợi bị động không có chủ ý.

Suy hao

Suy hao là một giá trị thể hiện sự suy giảm về biên độ, giữa hai tín hiệu sóng RF. Cũng giống như độ lợi, suy hao cũng có hai loại: có chủ ý và không có chủ ý.

Suy hao có chủ ý

Dựa vào các quy định của các tổ chức quản lý trong lĩnh vực tần số vô tuyến, cần đảm bảo công suất phát của các thiết bị không dây phải nằm trong giới hạn cho phép. Tùy thuộc vào thiết bị phát sóng vô tuyến, bộ khuếch đại, cáp và anten sử dụng, đôi khi cũng cần phải thực hiện việc giảm biên độ của tín hiệu RF (suy hao có chủ ý). Việc này có thể thực hiện được bằng cách sử dụng bộ suy hao tín hiệu RF (attenuator).

Suy hao không có chủ ý (suy hao tự nhiên)

Suy hao tự nhiên xảy ra do các nguyên nhân: mở rộng không gian lan truyền, phản xạ, khúc xạ, tán xạ, nhiễu xạ và hấp thụ.

Phản xạ

Hiện tượng phản xạ là hiện tượng khi tín hiệu RF truyền tới bề mặt nhẵn, không có khả năng hấp thụ, bị đổi hướng truyền và quay trở lại môi trường mà nó đã tới. Đây có thể là hiện tượng RF xảy ra dễ hiểu nhất, vì chúng ta có thể thấy hiện tượng này thường xuyên trong cuộc sống. Bạn có thể chiếu ánh sáng vào một cái gương theo một góc lệch nào đó rồi quan sát sự phản xạ của nó. Thực tế, mỗi khi bạn nhìn vào gương là bạn đã trải nghiệm hiện tượng phản xạ điện từ, hay phản xạ tần số điện từ.

Hình sau đây minh họa về khái niệm phản xạ.

Ở ví dụ trên, sóng ánh sáng phát ra từ bóng đèn, (nó cũng là sóng điện từ, tương tự như các sóng RF), đầu tiên nó gặp phải đối tượng (hình hộp chữ nhật), xảy ra hiện tượng phản xạ, sóng ánh sáng truyền tới gương. Khi gặp bề mặt của gương, sóng ánh sáng tiếp tục bị phản xạ và truyền tới mắt của người quan sát. Cuối cùng, mắt sẽ hoạt động giống như một thiết bị tiếp nhận sóng ánh sáng, truyền tới các bộ phận cảm nhận ánh sáng của con người, đem đến cảm nhận về ánh sáng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần chú ý là những gì nhìn thấy, chính là ánh sáng đã được phản xạ khi gặp đối tượng, truyền tới gương, và gương lại phản xạ tới mắt người.

Tín hiệu RF cũng phản xạ khi gặp các đối tượng phẳng và có kích thước lớn hơn bước sóng của nó. Vì vậy, nếu tín hiệu RF truyền qua môi trường chân không, sẽ không có hiện tượng phản xạ. Tuy nhiên, môi trường thực tế là trái đất hoặc khí quyển, trong môi trường này sẽ có các phần tử vật chất khác nhau, nên có thể sẽ xảy ra một số hiện tượng như: phản xạ, khúc xạ, tán xạ, nhiễu xạ và hấp thụ.

Vì các đối tượng có thể gây ra hiện tượng phản xạ luôn có bề mặt phẳng và có kích thước lớn hơn bước sóng và vì các sóng được sử dụng trong IEEE 802.11 có bước sóng từ 5 đến 13 cm, nên các đối tượng có bề mặt phẳng và có kích thước lớn hơn 5 cm (với băng tần 5 GHz) và lớn hơn 13 cm (với băng tần 2.4 GHz) sẽ gây ra hiện tượng phản xạ. Cụ thể các đối tượng đó là: mái nhà bằng kim loại, tường bao bằng nhôm hoặc kim loại, thang máy,…v.v.

Hình dưới đây minh họa hiện tượng phản xạ của tín hiệu RF. Điều quan trọng cần nhớ là tín hiệu phản xạ luôn luôn yếu hơn tín hiệu gốc. Lý do, là năng lượng của RF luôn luôn bị hấp thụ bởi vật phản xạ.

---------------------------------------

Tham khảo

[1] Trần Nghiêm, 2012, Bản chất của bức xạ điện từ, thuvienvatly.com

[2] website http://www.wi-fi.org

[3] website: http://www.wirelessvn.com

[4] website: http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB

[5] Trần Nghiêm, Lịch sử điện từ học, thuvienvatly.com

[6] http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB#.E1.BB.A8ng_D.E1.BB.A5ng

[7] http://vi.wikipedia.org

[8] Tom Carpenter, 2008, CWNA Official Study Guide, Mc Gram-Hill

[9] http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

Wireless Network_6_Các đặc trưng của tần số vô tuyến

Bước sóng

Bước sóng là khoảng cách giữa hai đỉnh sóng (điểm mà sóng đạt giá trị lớn nhất), hoặc tổng quát là giữa hai cấu trúc lặp lại của sóng, tại một thời điểm nhất định. Nó thường được viết tắt bằng chữ Hy Lạp lambda (λ). Đơn vị tính là mét (m). Ví dụ, hình bên dưới, bước sóng là khoảng cách giữa 2 điểm A và B.

Bước sóng quyết định đến việc xác định kích thước tối ưu của anten tiếp nhận sóng và xác định các tương tác của nó với môi trường. Ví dụ, nó sẽ phản ứng khác khi chạm vào các đối tượng có kích thước lớn hơn bước sóng và các đối tượng có kích thước nhỏ hơn bước sóng.

Bước sóng và tần số có quan hệ với nhau, bước sóng lớn thì tần số nhỏ và ngược lại bước sóng nhỏ thì tần số lớn. Trong một môi trường truyền nhất định, nếu biết được tần số sẽ tính được bước sóng và ngược lại biết được bước sóng sẽ tính được tần số. Tốc độ truyền của sóng điện từ trong chân không bằng với tốc độ truyền của ánh sáng (~300.000km/s).

Gọi bước sóng là λ, tần số là f.

Ta có:

λ = 300.000.000/f (đơn vị là mét)

f = 300.000.000/ λ (đơn vị là hertz)

Ví dụ, với tần số của mạng WLAN là 2.4 GHz, ta có thể tính được bước sóng (λ) của mạng :

λ = 300.000.000/2.450.000.000 = 0,123 (m) hay xấp xỉ 12,3 cm.

Tần số

Tần số của một sóng phát ra, là số chu kì sin (số dao động, hay số bước sóng) đi qua một điểm cho trước trong một giây, tỉ lệ với nghịch đảo của bước sóng. Như vậy, bước sóng càng dài ứng với tần số càng thấp, và bước sóng càng ngắn ứng với tần số càng cao. Tần số thường được biểu diễn bằng đơn vị hertz (Hz), hoặc chu kì/giây (cps).

Tần số lớn sẽ mang theo năng lượng lớn.

Tốc độ truyền sóng và bước sóng sẽ thay đổi khi môi trường truyền thay đổi, tuy nhiên, tần số không bị thay đổi.

Để hiểu hơn về sóng điện từ, có thể xem xét trên sóng âm (ví dụ, âm thanh phát ra từ đàn piano), mặc dù sóng điện từ và sóng âm là 2 hiện tượng khác nhau nhưng chúng có những tính chất về sóng giống nhau.

Tốc độ truyền của sóng âm nhỏ hơn rất nhiều so với sóng điện từ, chỉ khoảng 344 (m/s), vậy nếu bạn đứng cách xa cây đàn 30 mét, âm thanh phát ra từ cây đàn sẽ cần khoảng 1/10 giây để đến được tai của bạn.

(Các tần số của đàn piano)

Ví dụ, trong hình mô tả các tần số của đàn piano, nốt Đô (C) ở khoảng giữa có tần số 261Hz.

Ta có thể tính được bước sóng là : 344/261 = 1,32 (m)

Và có thể nói rằng có 261 “lượt sóng” đã được sinh ra trong một giây, và tốc độ truyền của một “lượt sóng” là 344 (m/s), tốc độ này cũng là tốc độ của các sóng có tần số thấp hơn, tuy nhiên, sóng có tần số thấp hơn sẽ có ít “lượt sóng” hơn được tạo ra trong thời gian một giây.

Khi chơi đàn sẽ có rất nhiều sóng âm được phát ra với các tần số khác nhau, tai người có khả năng cảm nhận (thu) được các sóng ở các tần số khác nhau.

Trong mạng WLAN tần số có vai trò rất quan trọng, bằng việc sử dụng các tần số khác nhau, cho phép thiết lập nhiều kết nối, nhiều đường truyền trong cùng một khu vực. Ví dụ, trong cùng một khu vực, mạng IEEE 802.11g phát ở kênh 1 có thể cùng tồn tại với mạng IEEE 802.11g phát trên kênh 11. Lí do là các kênh này đã sử dụng các tần số khác nhau, vì vậy không có hiện tượng nhiễu hoặc triệt tiêu nhau.

Hãy quan sát một buổi hòa nhạc, mặc dù có rất nhiều các loại nhạc cụ được chơi cùng lúc, nhưng do mỗi nhạc cụ phát ra ở một tần số sóng khác nhau, nên chúng tạo nên những giai điệu hài hòa, du dương. Ngược lại, khi bạn nhấn cả bàn tay của bạn lên sáu hoặc bảy phím của đàn piano cùng một lúc, bạn sẽ chỉ nghe được âm thanh là một tiếng ồn, nguyên nhân là do tần số của các phím quá gần bằng nhau. Tương tự như vậy, việc phát nhiều tần số vô tuyến có giá trị gần bằng nhau, thiết bị thu sẽ rất khó hoặc không thể phân biệt được các tần số đang phát. Tuy nhiên, hãy nghe âm thanh du dương của hợp âm đô trưởng (C) hoặc rê trưởng (D), vì các phím của hợp âm thường không liên tục nhau. Áp dụng vào mạng WLAN, các mạng IEEE 802.11g có thể hoạt động cạnh nhau nếu chúng được cấu hình sử dụng các kênh 1, 6, và 11.

Biên độ

Trong sóng âm, các sóng có tần số thấp hơn có thể nghe được ở khoảng cách xa hơn. Tuy nhiên yếu tố ảnh hưởng tới âm lượng (hay độ lớn của âm thanh) chính là biên độ sóng.

Ở khoảng cách lớn hơn, sóng có bước sóng ngắn hơn sẽ khó được phát hiện hơn.

Trong kĩ thuật sóng âm, tăng biên độ đồng nghĩa với tăng âm lượng. Như vậy, tần số sẽ ảnh hưởng đến khoảng cách một sóng âm có thể truyền đi được, trong khi biên độ ảnh hưởng đến khả năng phát hiện (nghe) sóng âm tại phía tiếp nhận. Các sóng tần số vô tuyến cũng tương tự như vậy.

Một sóng tần số vô tuyến có biên độ lớn hơn sẽ dễ dàng được phát hiện hơn bởi thiết bị thu, so với sóng có biên độ nhỏ hơn, giả sử tất cả các yếu tố còn lại là như nhau. Nói cách khác, trong môi trường chân không, một sóng tần số vô tuyến được coi là có chất lượng tốt hơn tại một khoảng cách nào đó, nếu nó có biên độ lớn hơn. Nhưng về mặt lý thuyết, các sóng tần số vô tuyến sẽ truyền tới vô tận. Trong trường hợp này, khả năng phát hiện sóng tại một khoảng cách cho trước sẽ tốt hơn nếu sóng có biên độ lớn hơn. Một sóng với biên độ nhỏ có thể không phát hiện được bởi nhiễu nền (noise floor).

Nhiễu nền là một đại lượng để đo mức độ nhiễu của môi trường xung quanh. Nghĩa là, tại một vị trí bất kì, mặc dù vẫn tồn tại sóng tần số vô tuyến nhưng không thể nhận ra được, do nhiễu điện từ của môi trường xung quanh.

Thực tế, ở một vị trí cụ thể, cả sóng có biên độ lớn và sóng có biên độ nhỏ đều tồn tại, tuy nhiên chỉ có sóng có biên độ lớn mới có thể được phát hiện bởi thiết bị thu. Có nghĩa là, cả hai sóng đều đi tới vị trí đó, nhưng chỉ có sóng có biên độ lớn là có ích. Vì lý do này, trong chuyên môn, người ta thường thực hiện tăng biên độ để mở rộng phạm vi phủ sóng có ích.

Các hình dưới đây minh họa về các biên độ sóng khác nhau.

Pha

Khác với bước sóng, tần số và biên độ; pha không phải là đặc trưng của một sóng tần số vô tuyến mà là một khái niệm chỉ ra mối quan hệ giữa hai sóng có cùng tần số.

Một bước sóng được chia thành 360 phần bằng nhau, gọi là 360 độ. Nếu xét tại một thời điểm t0 bất kì, là thời điểm bắt đầu phát sóng có tên s1, thì ta nói sóng s1 bắt đầu tại 0 độ, khi sóng s1 tới vị trí 180 độ thì sóng s2 bắt đầu phát, ta nói, sóng s1 và s2 lệch pha nhau 180 độ.

Nếu hai bản sao của cùng một sóng tần số vô tuyến đến một anten tại một thời điểm, độ lệch pha của hai sóng này sẽ ảnh hưởng đến sóng phức hợp (sự kết hợp của hai sóng).

Khi các sóng cùng pha, chúng sẽ mạnh lên (về biên độ), còn gọi là hiện tượng cộng hưởng. Khi các sóng lệnh pha (out of phase), tùy thuộc vào độ lệnh pha sẽ có hiện tượng cộng hưởng hoặc triệt tiêu nhau.

Hai sóng cùng pha nếu độ lệnh pha bằng 0 độ và ngược pha nếu độ lệch pha bằng 180 độ (hình minh họa bên dưới).

Pha được sử dụng nhiều trong các thuật toán điều chế tần số vô tuyến tại các modem hiện đại.

--------------------------------------

Tham khảo

[1] Trần Nghiêm, 2012, Bản chất của bức xạ điện từ, thuvienvatly.com

[2] website http://www.wi-fi.org

[3] website: http://www.wirelessvn.com

[4] website: http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB

[5] Trần Nghiêm, Lịch sử điện từ học, thuvienvatly.com

[6] http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB#.E1.BB.A8ng_D.E1.BB.A5ng

[7] http://vi.wikipedia.org

[8] Tom Carpenter, 2008, CWNA Official Study Guide, Mc Gram-Hill


Wireless Network_5_Cơ bản về sóng điện từ

Sóng

Sóng (gọi đầy đủ là chuyển động sóng) là sự lan truyền của dao động. Trong vật lý, sóng có thể mạng theo năng lượng, lan truyền trong nhiều môi trường khác nhau, có thể bị đổi hướng (bởi khúc xạ, phản xạ, tán xạ, nhiễm xạ…) và thay đổi năng lượng (bởi hấp thụ, bức xạ,…) hay thay đổi cấu trúc (thay đổi tần số, thay đổi bởi môi trường phi tuyến tính, …)[7]

Điện trường

Điện trường là một mô hình tưởng tượng trong điện từ học để nói về môi trường vật chất đặc biệt bao quanh điện tích và gắn liền với điện tích đó. Điện trường tác dụng lực lên tất cả các hạt mang điện đặt trong nó và người ta gọi lực này là lực điện. Xét về bản chất, điện trường và từ trường là các biểu hiện riêng rẽ của một trường thống nhất là điện từ trường.[7]

Từ trường

Từ trường là môi trường vật chất đặc biệt sinh ra quanh các điện tích chuyển động hoặc do sự biến thiên của điện trường hoặc có nguồn gốc từ các môment lưỡng cực từ. Xét về bản chất, từ trường và điện trường là các biểu hiện riêng rẽ của một trường thống nhất là điện từ trường.[7]

Sóng điện từ

Sóng điện từ (hay bức xạ điện từ) là sự kết hợp của dao động điện trường và từ trường vuông góc với nhau, lan truyền trong không gian như sóng.

Điện trường có thể sinh ra từ trường và ngược lại từ trường có thể sinh ra điện trường.

Sóng điện từ là phương tiện truyền năng lượng chủ yếu trong vũ trụ.

Sóng điện từ (di chuyển) truyền theo hướng vuông góc với hướng dao động của cả vector điện trường (E) và vector từ trường (B), mang năng lượng từ nguồn bức xạ đến đích ở xa vô hạn.

Sóng điện từ có thể truyền đi trong chân không.

Hai trường năng lượng dao động vuông góc với nhau và dao động cùng pha theo dạng sóng sin toán học. Các vectơ điện trường và từ trường không chỉ vuông góc với nhau mà còn vuông góc với phương truyền sóng. Để đơn giản hóa minh họa, người ta thường quy ước bỏ qua các vectơ biểu diễn điện trường và từ trường dao động, mặc dù chúng vẫn tồn tại.

(Nguồn: thuvienvatly.com)

Mạng dựa trên công nghệ IEEE 802.11 sử dụng sóng điện từ nằm trong dải tần số vô tuyến (RF - radio frequency) để truyền dữ liệu.

Tần số vô tuyến là dải tần số nằm trong khoảng 3 kHz tới 300 GHz, tương ứng với tần số của các sóng vô tuyến và các dòng điện xoay chiều mang tín hiệu vô tuyến. RF thường được xem là dao động điện chứ không phải là dao động cơ khí, dù các hệ thống RF cơ khí vẫn tồn tại.[7]

------------------

Tham khảo

[1] Trần Nghiêm, 2012, Bản chất của bức xạ điện từ, thuvienvatly.com

[2] website http://www.wi-fi.org

[3] website: http://www.wirelessvn.com

[4] website: http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB

[5] Trần Nghiêm, Lịch sử điện từ học, thuvienvatly.com

[6] http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB#.E1.BB.A8ng_D.E1.BB.A5ng

[7] http://vi.wikipedia.org

[8] Tom Carpenter, 2008, CWNA Official Study Guide, Mc Gram-Hill

Wireless Network_4_Lịch sử sóng điện từ

Chương 2. Tần số vô tuyến và anten

Nội dung

o Lịch sử của sóng điện từ

o Cơ bản về sóng điện từ

o Các đặc trưng của tần số vô tuyến

o Các hiện tượng xảy ra (behavior) khi truyền tần số vô tuyến

o Một số đại lượng vật lý liên quan đến tần số vô tuyến

o Tín hiệu tần số vô tuyến và anten

Để truyền thông không dây, phải sử dụng một trong hai phương tiện chủ yếu là sóng âm và sóng điện từ. Khi hai người giao tiếp với nhau, sóng âm sẽ được truyền qua môi trường không khí, sẽ được nhận và phiên dịch tại tai của người nhận. Hình thức truyền thông bằng sóng âm là hình thức cổ xưa nhất của truyền thông không dây.

Tuy nhiên, việc sử dụng sóng âm trong truyền thông ở khoảng cách xa sẽ không hiệu quả, do hiện tượng nhiễu trong dải sóng âm rất lớn và cần nhiều năng lượng để truyền sóng âm đi xa.

Sóng điện từ chính là giải pháp thay thế cho sóng âm, sóng điện từ được phân chia theo các tần số khác nhau và cần ít năng lượng để truyền thông trong phạm vi rộng.

Lịch sử sóng điện từ

[Mối quan tâm và sự mê hoặc của loài người với từ học và điện học đã có cách nay ít nhất là 2600 năm, khoảng năm 600 tCN. Đó là lúc, xưa như chúng ta biết, những người Hi Lạp cổ đại lần đầu tiên đề cập đến những tính chất bí ẩn. Nhà triết học Thales xứ Miletus đã quan sát thấy hổ phách, khi cọ xát, hút được lông chim và những chất liệu nhẹ khác. Ông cũng để ý thấy đá nam châm (magnetite) có thể hút được sắt.

Năm 1746, Johann Heinrich Winckler, một giáo sư Đại học Leipzig, cố gắng khai thác điện để truyền điện báo qua những khoảng cách dài.

Năm 1750, John Michell, nhà địa lý người Anh, xuất bản cuốn Chuyên luận về nam châm nhân tạo, mô tả cách thức chế tạo các nam châm thép mạnh và đưa ra một lời giải thích của khám phá của ông về định luật nghịch đảo bình phương cho lực hút và lực đẩy của các nam châm.

Năm 1802, tại Italy, Gian Domenico Romagnosi phát hiện ra một mối liên quan giữa điện và từ khi ông quan sát thấy một cột volta làm lệch một kim từ tính. Lời giải thích cho khám phá của ông xuất hiện trên một tờ báo Italy nhưng không được đa số cộng đồng khoa học chú ý tới.

Một cách tình cờ sau bước chân của nhà triết học Italy Gian Domenico Romagnosi, Hans Christian Ørsted trở thành nhà khoa học thứ 2 phát hiện ra mối tương quan của điện và từ. Tháng 4 năm 1820, nhà vật lí và hóa học người Đan Mạch, theo thuật lại, trong khi giảng bài về điện ông chú ý thấy kim của một la bàn gần đó tự sắp nó vuông góc với một dây dẫn mang dòng điện. Nghiên cứu sau đó của ông không đưa đến tận cùng của cái ông đã nhìn thấy, nhưng ông sớm công bố khám phá của ông trước thế giới, lần này đã hiểu được tầm quan trọng của nó. Thật vậy, tin tức của Ørsted đã gây ra một cơn chấn động trong cộng đồng khoa học, cho ra đời lĩnh vực điện từ học và đặt nền tảng cho đột phá mang tính lịch sử của Michael Faraday và James Clerk Maxwell sau này trong cùng thế kỉ.

Năm 1820, nhà toán học André – Marie Ampère, chỉ một tuần sau khám phá của Ørsted đã bắt đầu phát triển một lí thuyết nhằm giải thích hiện tượng và chứng minh rằng các dây dẫn song song, với dòng điện chạy qua, sẽ hút lẫn nhau khi các dòng điện chạy cùng chiều, nhưng xẽ đẩy nhau nếu chúng chạy ngược chiều nhau.

Năm 1820, dây dựng trên nghiên cứu của Ørsted, nhà vật lí Pháp François Arago tìm thấy mạt sắt không bị từ hóa tự định hướng theo một vòng tròn xung quanh một dây đồng có dòng điện chạy qua như thể nó là một nam châm, nhưng sẽ phân tán ra khi dòng điện mất đi.

Năm 1820, nhà toán học và vật lí Đức Johann Schweigger chế tạo cái ông gọi là bộ nhân điện có thể khuếch đại đáng kể từ tính của một mạch điện. Bộ nhân Schweigger trở thành dụng cụ chính xác đầu tiên có khả năng phát hiện và đo những lượng rất nhỏ của điện, cuối cùng trở thành cái gọi là điện kế.

Năm 1820, các nhà vật lí Pháp Jean-Baptiste Biot và Félix Savart thiết lập cái ngày nay gọi là định luật Biot-Savart, có thể dùng để tính từ trường ở một khoảng cách cho trước, tính từ một dòng điện là nguồn gốc sinh ra trường.

Năm 1821, Michael Faraday, một người thợ đóng sách cũ học việc khoa học dưới trướng Humphry Davy, vẽ sơ đồ từ trường xung quanh một vật dẫn và lặp lại các thí nghiệm của Ørsted trong phòng thí nghiệm của ông ở Viện Hoàng gia. Ông phát hiện thấy dòng điện có thể tạo ra chuyển động quay, đưa ông đến chỗ chế tạo một trong những động cơ điện nguyên bản đầu tiên.

Mặc dù ý tưởng về máy điện báo đã ra đời từ giữa những năm 1700, nhưng trong thập niên 1830 thì bản thân thiết bị này mới ra đời – chủ yếu nhờ phát minh gần đấy về nam châm điện. Một sự kiện quan trọng nữa góp phần mang lại công nghệ mới này là khám phá của nhà vật lí người Anh Charles Wheatstone rằng dòng điện chạy qua các dây dẫn dài với vận tốc lớn – khoảng 288.000 dặm mỗi giây. Mặc dù Wheatstone tính giá trị hơi lớn một chút – dòng điện, rốt cuộc, chẳng thể truyền đi nhanh hơn tốc độ ánh sáng – nhưng kết quả của ông là chính xác nhất tính từ trước đến bấy giờ. Máy điện báo tỏ ra là một dụng cụ định hình lịch sử, và nó đã làm sáng tỏ thậm chí với những người không phải nhà khoa học về tiềm năng to lớn của dòng điện khai thác được.

Trong thập niên này, chàng sinh viên nghệ thuật người Mĩ Samuel Morse trở nên hứng thú với ý tưởng máy điện báo. Ông biết rõ nhu cầu cho một dụng cụ như vậy: Trong lúc đi ra nước ngoài, ông chỉ hay tin vợ ông mất sau vài tuần vì thực tế chẳng có cách nào đưa tin đến ông nhanh hơn được. Morse đã phát triển một nguyên mẫu của dụng cụ, cũng như một bộ mã đặc biệt biến đổi các kí tự thành các vạch và các chấm.

Giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của cáp điện báo là một nhà khoa học tài ba tên là William Thomson. Ông đã tự ghi danh mình vào lịch sử bởi việc phát triển một thang đo nhiệt độ tuyệt đối, và bắt đầu vào giữa thập niên 1850 đưa bản thân ông vào nghiên cứu cáp điện báo, trở thành giám đốc của Công ti Điện báo Đại Tây Dương. Ông đã lắp đặt thành công đường cáp xuyên đại dương, giành danh hiệu ngài Kelvin cho những nỗ lực của mình. Thomson còn có những đóng góp quan trọng khác cho công nghệ, trong đó có công trình nghiên cứu đặt nền tảng cho lí thuyết dao động điện, hình thành nên cơ sở của điện báo không dây.

Ba năm sau đường cáp xuyên đại dương đầu tiên, đường điện báo xuyên lục địa đầu tiên đã được hoàn thành ở nước Mĩ, nối từ Omaha, Nebraska, tới Carson City, Nevada. Công nghệ đó, phát triển song hành với đường sắt, giữ vai trò quan trọng trong cuộc Nội chiến, làm thay đổi diện mạo của báo giới, khuyến khích khai hoang miền tây và xếp xó dịch vụ đưa tin bằng ngựa thồ cổ xưa.

Thập kỉ 1870 được đánh dấu bởi phát minh ra một dụng cụ sẽ làm cách mạng hóa sự truyền thông của loài người còn hơn cả điện báo. Năm 1876, Alexander Graham Bell phát minh ra điện thoại.

Trong những năm 1880 nhiều nhà khoa học đang nghiên cứu tác phẩm của James Clerk Maxwell huyền thoại. Một trong số họ là nhà vật lí Đức Heinrich Hertz, người muốn xem ông có thể làm ảo thuật với sóng điện từ mà Maxwell đã lí thuyết hóa hai thập kỉ trước đó hay không. Để làm việc này, Hertz nghĩ ra một mạch dao động (nếu các lí thuyết của Maxwell đúng) sẽ phát ra sóng điện từ. Hertz còn chế tạo một vòng kim loại với một khe nhỏ bên trong nó – một thiết bị nhận được thiết kế để dò tìm sóng truyền đi từ máy dao động. Khi mang vòng kim loại tới gần máy dao động, các tia lửa điện từ dòng điện nhảy qua khe ở trong vòng, chứng tỏ sóng điện gửi vào không gian có thể phát hiện ra được. Các thí nghiệm của Hertz còn cho thấy, giống như sóng ánh sáng, các sóng điện từ này có thể phản xạ và khúc xạ, và chúng truyền đi ở tốc độ bằng như ánh sáng, nhưng với bước sóng dài hơn (Hertz còn quan sát thấy trong những thí nghiệm này khi ánh sáng chiếu lên một mặt kim loại, các electron bị bật ra – hiệu ứng quang điện).

Cho nên Hertz là người đầu tiên phát và thu sóng vô tuyến, mặc dù ông không đặt tên chúng như vậy, ông cũng không lường trước được tiềm năng thực tiễn không thể tin nổi của chúng. Tuy nhiên, những người khác sẽ sớm định hình các khám phá của Hertz thành điện báo vô tuyến và radio. Cuối cùng thì cũng những nguyên lí đó đã dẫn đến truyền hình và radar. Các thành tựu của Hertz được viện dẫn mỗi khi tham khảo đơn vị đo lường của tần số sóng vô tuyến, đơn vị hertz.

Những năm 1890, trong các thí nghiệm với ống tia cathode, nhà vật lí Đức Wilhelm Roentgen phát hiện ra một dạng trước đấy chưa biết thuộc bức xạ điện từ, tia X, có khả năng đi qua một số chất chắn sáng (kể cả các mô mềm của cơ thể) hấp thụ ánh sáng khả kiến. Khám phá đó đã làm cho ông nổi tiếng, làm thay đổi các lĩnh vực vật lí và y khoa và khơi nguồn cảm hứng ở những dạng thức khác có thể có của các tia điện từ.

Nhờ nghiên cứu của James Clerk Maxwell và Heinrich Hertz, và những người khác, cả hai đều hiểu bản chất của sóng điện từ và biết chúng có thể được sử dụng để truyền thông trên những khoảng cách dài. Tuy nhiên, có những trở ngại kĩ thuật phải vượt qua, gồm việc làm thế nào phát ra tần số và điện áp đủ cao. Tesla giải quyết nan đề đó vào năm 1891 khi ông đăng kí phát minh cuộn dây Tesla, nó có thể sử dụng để truyền và nhận các tín hiệu vô tuyến mạnh khi được điều chỉnh cho cộng hưởng ở cùng tần số.

Năm 1900, nhà vật lí Đức Max Planck công bố một lí thuyết đề xuất rằng các nguyên tử không giải phóng năng lượng của chúng theo một dòng liên tục, như các nhà khoa học vẫn nghĩ, mà ở từng lượng gián đoạn ông gọi là lượng tử. Nó là một ý tưởng cấp tiến, nhưng Planck đã không nhận ra phạm vi và hàm ý thật sự của nó, và trong nhiều năm cũng chẳng có người đương thời nào của ông nhận ra điều đó.

Cần đến thiên tài của Albert Einstein để lĩnh hội các hệ quả của ý tưởng của người đồng hương của ông. Tóm lấy quan niệm và Planck và làm việc với nó, Einstein, lúc ấy đang làm việc ở một phòng cấp bằng sáng chế Thụy Sĩ, đã phát triển một lí thuyết ấn định ánh sáng vừa là sóng vừa là hạt. Quan niệm khác thường này, đã làm sửng sốt các nhà vật lí đồng bạn của Einstein, cho rằng ánh sáng cấu thành từ các lượng tử (sau này gọi là photon), nhờ đó giải thích cho hiệu ứng quang điện, trong đó ánh sáng làm thoát electron ra khỏi kim loại.

Cũng trong “năm huyền diệu” 1905 này, Einstein đưa ra lí thuyết tương đối đặc biệt của ông. Với phương trình nổi tiếng E = mc^2, lí thuyết đã giải được mối quan hệ giữa thuyết điện từ và chuyển động bình thường, đưa đến một quan niệm cấp tiến rằng khối lượng và năng lượng là một và như nhau.

Mọi người bình thường không có kiến thức vật lí nhìn thấy điện và từ học bắt đầu làm thay đổi cuộc sống của họ. Ngày càng có nhiều ứng dụng được phát minh để khai thác dòng điện, bao gồm, trong những năm đầu của thế kỉ mới, máy hút bụi, lò nướng bánh, đèn flash và sắt. Các nhà phát minh tiếp tục phát triển radio, vẫn ở dạng trứng nước của nó. Ngành công nghiệp vận tải biển được kế tục bởi “điện báo không dây” cho việc truyền tín hiệu ở dạng mã Morse. Năm 1906, kĩ sư Mĩ Lee Dr Forest chế tạo ra ống ba điện cực (triode) có thể phát hiện tín hiệu không dây tốt hơn các thiết bị hiện có. Cuối năm đó, lần đầu tiên các thính giả say sưa nghe được giọng nói con người và phát thanh âm nhạc trên vùng “không dây”. Tuy nhiên, mãi cho đến thập niên 1920 thì phát thanh radio mới thật sự phát lên khỏi mặt đất.

Năm 1902 sau các báo cáo của Guglielmo Marconi về sự truyền tín hiệu vô tuyến xuyên Đại Tây Dương (1901), Oliver Heaviside của nước Anh phỏng đoán rằng một lớp dẫn điện nằm trên tầng cao khí quyển của Trái đất cho phép các sóng này truyền đi những khoảng cách trải rộng ra bất chấp sự cong của hành tinh. Ở nước Mĩ, kĩ sư điện Arthur Kennelly đã độc lập đi đến cùng kết luận đó và tầng khí quyển giả thuyết được gọi là lớp Kennelly–Heaviside hay tầng điện li.

Năm 1905 nhà vật lí Đức Albert Einstein thiết lập thuyết tương đối đặc biệt của ông và chỉ ra rằng điện và từ là hai khía cạnh của một hiện tượng.

Những cái nhìn ngày càng sâu sắc hơn về nguyên tử lần lượt xuất hiện trong thời kì này. Trong những năm 1920, George Uhlenbeck và Samuel Goudsmit, những chàng sinh viên đang nghiên cứu vật lí ở Hà Lan, đề xuất rằng các electron không chỉ quay xung quanh hạt nhân, mà còn quay tròn xung quanh trục của chúng, y hệt như Trái đất. Năm 1928, nhà vật lí Anh Paul Dirac tiên đoán sự tồn tại của một phản hạt với electron có cùng khối lượng nhưng điện tích và spin ngược lại. Các tiên đoán trở thành hiện thực bốn năm sau đó với việc nhà vật lí Mĩ Carl Anderson khám phá ra positron.

Trong khi tất cả những công trình này tiếp tục đi vào trí tuệ và phòng thí nghiệm của các nhà vật lí hàng đầu thế giới, thì công chúng thường dân thấy điện và những đổi mới do nó truyền cảm hứng làm biến đổi cuộc sống của họ. Một ví dụ là họ đang truyền đạt thông tin khác đi. Năm 1915, nhờ đèn ba cực của Lee De Forest, cuộc gọi điện thoại xuyên lục địa đầu tiên diễn ra, giữa San Francisco và New York. Năm 1920, một phần ba hộ gia đinh ở khắp nước Mĩ có một máy điện thoại. Dịch vụ sẽ được cải tiến với cáp đồng trục băng rộng, với nó một bằng sáng chế đã được cấp vào năm 1929.

Các tiến bộ về radio đã mang môi trường mới đến với nhiều người hơn. Năm 1920, đài phát thanh đầu tiên trên thế giới mở cửa kinh doan ở Pittsburgh, Pennsylvania. Vài năm sau đó, người Mĩ đã nghe tin đưa về vụ xử án lớn đầu tiên, vụ thử nghiệm “Monkey” nổi tiếng. Kĩ sư điện người Mĩ Edwin Armstrong phát minh ra mạch hồi phục, máy thu đổi tần và mạch đổi tần trong thời kì này, thực hiện những cải tiến lớn với radio.

Thập kỉ 1930 chứng kiến sự xuất hiện của radio FM, do Edwin Armstrong phát minh làm một sự thay thế cho AM. Phần lớn của nước Mĩ và phần nhiều của châu Âu đã được kết nối qua radio; vào cuối thập niên 1930, cứ bốn trong năm hộ gia đình Mĩ có một máy radio.

Năm 1931, nhà vật lí Đức Ernst Ruska, trong khi còn là sinh viên ở Berlin, xây dựng thấu kính electron đầu tiên, sử dụng một nam châm điện làm hội tụ một chùm electron giống hệt như một thấu kính làm hội tụ một chùm ánh sáng. Năm 1933, ông sử dụng một vài thấu kính electron ghép nối tiếp chế tạo ra kính hiển vi điện tử đầu tiên với độ xác định tốt hơn kính hiển vi ánh sáng.

Năm 1932, James Chadwick của nước Anh khám phá ra neutron, một hạt có khối lượng bằng như proton, nhưng không có điện tích. Nhà vật lí Mĩ Carl Anderson khám phá ra positron, một hạt có khối lượng bằng như electron, nhưng có điện tích dương thay vì điện tích âm.

Năm 1940, một mẫu sơ khai của máy dao động magneton, dụng cụ đầu tiên có khả năng tạo ra công suất rất cao ở tần số vi sóng, được xây dựng, cho phép những tiến bộ lớn trong công nghệ radar.

Năm 1945, máy tính và Tích phân số Điện tử (ENIAC), máy tính điện tử đầu tiên của thế giới, được hoàn thành, sau ba năm xây dựng.

Năm 1947, một đội các nhà vật lí do Phòng thí nghiệm Bell Telephone thuê phát minh ra transistor, một linh kiện điện tử gồm một chất bán dẫn và ít nhất ba điện cực chủ yếu sử dụng cho việc khuếch đại hoặc chuyển mạch. Sau đó, transisor bắt đầu thay thế các ống chân không trong điện tử học.][5]

Các công nghệ dựa trên sóng vô tuyến đầu tiên

Thông tin liên lạc dựa trên sóng điện từ đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ. Cả truyền thanh và truyền hình đều dựa trên các sóng điện từ, cụ thể là sóng vô tuyến. Các sóng vô tuyến này cũng được sử dụng trong truyền tiếng nói không dây (điện thoại di động) và truyền dữ liệu.

Vào thập kỷ đầu tiên của thế kỉ 20, Guglielmo Marconi đã gửi, nhận và in kí tự S bằng máy điện báo Morse vượt qua Đại tây dương. Sự kiện này đã thúc đẩy các chính phủ, các cộng đồng doanh nghiệp quan tâm và đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực thông tin liên lạc không dây, đem đến nhiều kết quả như ngày nay.

Vào những năm 1920, sóng vô tuyến đã được sử dụng trong viễn thông, dịch vụ điện thoại vượt đại tây dương được thiết lập năm 1927 nối từ New York tới London.

Năm 1924 phòng thí nghiệm Bell đã tạo ra 1 thiết bị di động có thể truyền âm thanh dựa trên sóng vô tuyến, nhưng công nghệ này không thực sự hiệu quả và không được sử dụng rộng rãi cho tới những năm 1940.

Như chúng ta đã biết 2 máy tính có thể truyền dữ liệu cho nhau bằng việc sử dụng modem, modem thực hiện 2 chức năng: một là chuyển tín hiệu từ dạng số của máy tính sang dạng tương tự để truyền trên hạ tầng đường dây điện thoại, hai là quá trình chuyển ngược lại, từ tín hiệu tương tự sang tín hiệu số. Dựa trên ý tưởng này, hoàn toàn có thể thực hiện truyền dữ liệu dựa trên các giao tiếp không dây. Từ những ngày đầu, công nghệ dựa trên sóng vô tuyến chỉ được sử dụng trong phát thanh, truyền hình, truyền tiếng nói, thì ngày nay nó đã có một bước tiến dài trong việc truyền dữ liệu.

Một trong những vấn đề gặp phải ở giai đoạn đầu là độc quyền thiết bị. Cũng như con người, 2 thiết bị muốn giao tiếp với nhau thì phải cùng sử dụng một ngôn ngữ. Vì không có các chuẩn nên mỗi công ty sẽ tạo ra các thiết bị theo tiêu chuẩn của riêng họ, điều này dẫn tới sự không tương thích giữa các thiết bị của các công ty khác nhau. Các tổ chức IEEE, IETF và ANSI đã đưa ra các tiêu chuẩn để giải quyết vấn đề tương thích này, ví dụ chuẩn IEEE 802.11.

Quang phổ sóng điện từ [6]

o Gamam rays: tia gamma

o X rays: tia X

o UV – ultraviolet: tử ngoại hay cực tím

o IR – infrared red: hồng ngoại

o Microwave: vi sóng, vi ba, sóng cực ngắn

o Radio waves: sóng vô tuyến

o FM – frequency modulation: sóng điều tần, sóng ngắn

o AM – amplitude modulation: sóng điều biên, sóng trung

o Long radio waves: sóng dài

Một số ứng dụng của sóng điện từ trong lĩnh vực truyền thông hiện nay:

o Cực tím: sử dụng để truyền tín hiệu trên cáp quang

o Hồng ngoại: giao tiếp hồng ngoại (IrDA), điều khiển từ xa

o Vi ba: IEEE 802.11, IEEE 802.16

o Sóng vô tuyến: truyền thanh, cáp xoắn đôi

---------------------------------------------

Tham khảo:

[1] Trần Nghiêm, 2012, Bản chất của bức xạ điện từ, thuvienvatly.com

[2] website http://www.wi-fi.org

[3] website: http://www.wirelessvn.com

[4] website: http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB

[5] Trần Nghiêm, Lịch sử điện từ học, thuvienvatly.com

[6] http://vi.wikibooks.org/wiki/S%C3%B3ng_%C4%90i%E1%BB%87n_T%E1%BB%AB#.E1.BB.A8ng_D.E1.BB.A5ng

[7] http://vi.wikipedia.org

[8] Tom Carpenter, 2008, CWNA Official Study Guide, Mc Gram-Hill