--------------- <> -----------------
--- KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - GIÁO DỤC - VIỆC LÀM ---
--- Học để đi cùng bà con trên thế giới ---

Tìm kiếm trong Blog

Thiết kế mạng_1

Chương 1. Nhắc lại một số kiến thức cơ bản về mạng máy tính

Chương này sẽ nhắc lại một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản, có liên quan đến các nội dung sẽ được trình bày ở phần tiếp theo của tài liệu.
Các nội dung gồm:
-         Mô hình OSI.
-         LAN.
-         WAN.
-         Các thiết bị mạng.
-         TCP/IP.
-         Định tuyến (routing).
-         Địa chỉ IP.
-         Chuyển mạch (switching) tầng 2, tầng 3.
-         STP.
-         VLAN.

Giới thiệu về mạng máy tính

Vào những năm 1960, 1970, hệ thống máy tính thường gồm một máy tính trung tâm gọi là mainframe, người dùng sẽ kết nối tới máy tính trung tâm này bằng các thiết bị đầu cuối gọi là các terminal. Các thiết bị đầu cuối này không có khả năng xử lý, chỉ có chức năng hiển thị, giao tiếp với máy mainframe dựa trên dòng lệnh. Hệ thống mạng máy tính chỉ có nhiệm vụ kết nối máy mainframe và các terminal.
Vào năm 1981, IBM PC ra đời, đánh dấu một sự thay đổi lớn, máy PC có thể xử lý công việc mà trước đây phải nhờ tới máy mainframe. Từ đây, hệ thống mạng máy tính có nhiệm vụ mới, là kết nối các PC này lại với nhau.
Mạng máy tính hay gọi ngắn gọn là mạng (computer network, network) là một hệ thống kết nối giữa các máy tính và các thiết bị phần cứng khác để chia sẻ  thông tin và tài nguyên.
Mạng đơn giản nhất là mạng gồm hai máy tính kết nối với nhau bằng một sợị cáp (cable). Tuy nhiên, hầu hết các mạng luôn có rất nhiều các thiết bị kết nối với nhau.
Liên mạng (internetwork hay internet) là hai hay nhiều mạng nối với nhau bằng các thiết bị định tuyến (router) cho phép truyền dữ liệu giữa các mạng. Internet là một liên mạng.
Kết nối liên mạng (internetworking) là việc sử dụng các kĩ thuật, phần cứng, phần mềm để thiết kế, triển khai và quản trị các  liên mạng.
Mạng LAN là 1 hệ thống cho phép nhiều người dùng có thể giao tiếp, trao đổi dữ liệu (trao đổi file, thông điệp, chia sẻ máy in, ổ đĩa…v.v) với nhau trong phạm vi địa lý nhỏ.
Mạng WAN là 1 hệ thống cho phép người dùng chia sẻ thông tin như mạng LAN, tuy nhiên, điểm khác biệt là mạng WAN kết nối các mạng LAN khác nhau, nằm ở các vị trí địa lý khác nhau.

Mô hình OSI

Hãy tưởng tượng khi gửi 1 email từ nơi bạn đang ở tới cho một người bạn đang ở Nhật Bản, việc gửi email gồm các bước sau:
-         Bạn phải mở ứng dụng để gửi email (web mail hoặc application mail).
-         Nhập nội dung email.
-         Nhập địa chỉ người nhận.
-         Bấm nút Send để gửi.
-         Máy tính sẽ chuyển email bạn vừa gửi qua cạc mạng, tới cáp mạng…tới modem.
-         Modem của bạn phải ở trạng thái sẵn sàng gửi dữ liệu ra ngoài Internet.
-         Các thiết bị mạng trên Internet sẽ lựa chọn đường đi tốt nhất để email được chuyển tới đúng người nhận.
Mô hình OSI sẽ mô tả cách thức giao tiếp và mối quan hệ giữa các thành phần trong quá trình giao tiếp trên mạng.
OSI viết tắt của Open System Interconnection – kết nối các hệ thống mở. Là mô hình được sử dụng để tham chiếu.
Mô hình OSI được Hội đồng tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đưa ra vào năm 1984, gồm các quy định, các mô tả để gửi dữ liệu trên hệ thống mạng. Mô hình này được chia thành bảy tầng.

7
Application
Các tầng phía trên
6
Presentation
5
Sessision
4
Transport
Các tầng phía dưới
3
Network
2
Data link
1
Physical
Lưu ý, mô hình OSI chỉ đưa ra tất cả những gì (what) cần phải làm để truyền dữ liệu mà không đề cập tới cách thức làm như thế nào (how). Vì vậy, các giao thức khác nhau ở cùng một tầng có thể có cách thực hiện các chức năng khác nhau, ví dụ giao thức IP và IPX tại tầng Network.
Các tầng phía trên liên quan tới ứng dụng nhiều hơn: giao tiếp với người dùng, định dạng dữ liệu.
Các tầng phía dưới liên quan tới việc truyền dữ liệu: cách thức truyền dữ liệu, các yếu tố vật lý của hệ thống mạng.

Giao thức (Protocol)

Giao thức là một tập các quy định. Quy định về cách thức giao tiếp giữa các máy tính, thiết bị trên hệ thống mạng, nó cũng giống như các quy định khi tham gia giao thông – gặp đèn đỏ thì dừng lại, đợi tới đèn xanh thì được đi.
Hai máy tính phải cùng sử dụng một giao thức thì mới có thể giao tiếp với nhau được. Hai máy tính sử dụng hai giao thức khác nhau để giao tiếp thì cũng như một người sử dụng tiếng Việt để nói với một người chỉ biết tiếng Anh?!?.
Có rất nhiều giao thức mạng khác nhau đang được sử dụng: giao thức mạng LAN, giao thức mạng WAN, giao thức định tuyến (routing)…v.v.
Bộ giao thức (protocol suite) là tập hợp các giao thức tương ứng với các tầng của mô hình OSI. Bộ giao thức còn được gọi là chồng giao thức (protocol stack).
Bộ giao thức TCP/IP là một bộ giao thức được sử dụng nhiều nhất hiện nay. TCP/IP là nền tảng của Internet và hệ thống mạng của các tổ chức. Ngoài ra còn có 1 số các bộ giao thức khác như: NetWare của Novell, AppleTalk của Apple và System Network Architecture của IBM.

Các tầng trong mô hình OSI

Tầng 1 (Layer 1) – Physical
Tầng này đặc tả các vấn đề liên quan đến điện và cơ học như: các điều kiện về dòng điện, cơ  khí cần thiết cho việc kích hoạt, duy trì, và kết thúc kết nối vật lý giữa các thiết bị. Bao gồm các đặc tả về: mức điện áp, chiều dài tối đa của cáp kết nối, loại kết nối, tốc độ truyền dữ liệu tối đa…v.v.
Hoạt động của tầng vật lý liên quan đến việc truyền dữ liệu dạng nhị phân, được gọi là bit (viết tắt của binary digits), một bit mang một giá trị dữ liệu: 0 hoặc 1.
Tầng 2 (Layer 2) – Data link
Mô tả định dạng của dữ liệu được truyền giữa các mạng vật lý. Quá trình truyền dữ liệu tại tầng này có thể có cơ chế kiểm tra tính tin cậy của dữ liệu hoặc không, tùy thuộc vào giao thức sử dụng.
Tầng này chỉ ra cách thức để truy cập đường truyền, bao gồm: địa chỉ vật lý, phát hiện lỗi, sửa lỗi, và kiểm soát lưu lượng (flow control).
Có nhiệm vụ truyền dữ liệu giữa các nút mạng kề nhau trong mạng WAN hoặc giữa các nút mạng trong cùng một đoạn mạng (segment) LAN.
Đơn vị dữ liệu (PDU – protocol data unit) sử dụng ở tầng này là khung dữ liệu (gọi là frame). Có nhiều loại frame khác nhau tùy theo thiết bị và môi trường truyền.
Frame gồm: dữ liệu cần truyền, thông tin địa chỉ và thông tin điều khiển.
Trong mạng LAN, tổ chức IEEE chia tầng Data link thành hai tầng con là: Logical Link Control (LLC) và Media Access Control (MAC).
Tầng LLC (được mô tả trong IEEE 802.2) cho phép nhiều giao thức tại tầng Network có thể giao tiếp trên cùng một liên kết vật lý. Điều này được thực hiện bằng cách chỉ rõ giao thức được sử dụng tại tầng Network trong LLC của frame.
Tầng MAC được mô tả trong IEEE 802.3 Ethernet và IEEE 802.5 Token Ring.
Tầng MAC xem địa chỉ vật lý – MAC address - là định danh duy nhất của một thiết bị trên mạng. Mỗi frame gửi đi sẽ bao gồm địa chỉ MAC của thiết bị nguồn (thiết bị gửi) và thiết bị đích (thiết bị nhận), và chỉ có thiết bị đích mới nhận và xử lý frame.
Tầng 3 (Layer 3) – Network
Tầng Network chịu trách nhiệm tìm đường đi cho dữ liệu, nó chuyển tiếp dữ liệu qua các mạng logic (mạng logic có thể chứa nhiều mạng vật lý).
Địa chỉ IP được mô tả ở tầng này.
Trong khi tầng Data link chỉ thực hiện truyền dữ liệu giữa các trạm liền kề, trực tiếp (hop-to-hop), thì tầng Network thực hiện truyền dữ liệu giữa các trạm liền kề và trong liên mạng (end-to-end).
Giao thức định tuyến (routing protocol) được mô tả tại tầng này, giúp tìm đường đi tốt nhất để truyền dữ liệu từ nguồn tới đích.
Đơn vị dữ liệu tại tầng này là các datagram (hoặc packet). Các giao thức khác nhau sử dụng các loại datagram khác nhau.
Datagram có thể được chia nhỏ thành các packet và được lắp ghép lại khi đi qua các mạng khác nhau. Như vậy datagram là đơn vị dữ liệu lý thuyết, còn packet là đơn vị dữ liệu vật lý (dùng để truyền trên mạng). Trong một số trường hợp, nếu datagram không bị chia nhỏ thì datagram và packet là một. Hai khái niệm này có thể dùng thay thế cho nhau.
Tầng 4 (Layer 4) - Transport
Tầng này mô tả cách thức kết nối và truyền dữ liệu giữa các người dùng đầu cuối (end-to-end).
Tầng này mô tả 2 kiểu truyền dữ liệu:
Một là, truyền dữ liệu tin cậy hướng kết nối (connection-oriented), kiểu truyền này có thiết lập một kết nối logic và sử dụng cơ chế tuần tự (sequence number) để đảm bảo truyền đủ dữ liệu tới máy nhận.
Hai là, truyền dữ liệu phi kết nối (connectionless) và không đảm bảo tính tin cậy của dữ liệu truyền. Với kiểu truyền dữ liệu không tin cậy, việc kiểm tra tính tin cậy của dữ liệu được thực hiện ở tầng cao hơn hoặc bởi người sử dụng.
Truyền đa công (multiplexing) cho phép nhiều ứng dụng sử dụng chung một kết nối vật lý, khi đó dữ liệu sẽ được gán thẻ (tag) là các số để xác định dữ liệu đó thuộc ứng dụng nào.
Đơn vị dữ liệu truyền tại tầng này là segment (đoạn dữ liệu).
Các tầng còn lại – Layer 5 đến 7
Ba tầng ở phía trên có nhiệm vụ định hình dữ liệu được truyền từ nguốn tới đích; khi tìm hiểu về hạ tầng mạng, chúng ít được quan tâm. Sau đây là mô tả ngắn gọn chức năng của các tầng:
-         Tầng 5 (Layer 5) – session: chịu trách nhiệm thiết lập, duy trì và kết thúc một phiên giao tiếp giữa các ứng dụng chạy trên các thiết bị (host) khác nhau.
-         Tầng 6 (Layer 6) – presentation: mô tả về định dạng, cấu trúc, mã hóa, nén, và các vấn đề liên quan khác để biểu diễn dữ liệu, đảm bảo thông tin được gửi từ tầng application của thiết bị nguồn có thể đọc được tại tầng application của thiết bị đích.
-         Tầng 7 (Layer 7) – application: là tầng gần với người dùng nhất, nó tương tác trực tiếp với các phần mềm ứng dụng mạng, cung cấp các dịch vụ, giao thức cho các ứng dụng.
Giao tiếp giữa các tầng trong mô hình OSI
Phần này sẽ mô tả cách thức giao tiếp giữa bảy tầng trong mô hình OSI. Khi bạn gửi một email từ Toronto tới San Francisco, thực tế chính là gửi một email từ ứng dụng email của bạn tới ứng dụng email trên máy tính của người bạn tại San Francisco.
Trong mô hình OSI, việc trao đổi thông tin được xem xét trên từng tầng, ví dụ, tầng application trên máy của bạn sẽ giao tiếp với tầng application trên máy của người bạn kia, tuy nhiên, để thực hiện điều này email phải đi qua và đáp ứng các mô tả  tại các tầng khác trên máy tính của bạn; ví dụ, nó phải có địa chỉ ở tầng mạng (IP), lựa chọn loại frame phù hợp, sau đó, được truyền trên hệ thống mạng, và khi tới máy đích nó lại phải đi qua và đáp ứng tất cả các tầng tại máy đích trước khi tới được tầng application trên máy đích.
Từ tầng application, khi email chuyển xuống các tầng thấp hơn, nó sẽ được gắn thêm các thông tin điều khiển, những thông tin này giúp truyền dữ liệu tới đích. Nghĩa là tại mỗi tầng, dữ liệu sẽ được đóng gói (encapsulate hoặc wrap) với những thông tin thích hợp, gồm: địa chỉ, thông tin điểu khiển, thông tin kiểm tra lỗi.
Hình sau đây mô tả quá trình đóng gói (khi gửi email) đi từ tầng trên xuống các tầng phía dưới và quá trình mở gói (unencapsulate hoặc decapsulate) (tại máy nhận email) khi đi từ tầng dưới lên các tầng phía trên.

Ví dụ, ở hình trên,
-         Tại tầng 4, email này được đóng gói trong một segment.
-         Tại tầng 3, segment này được đóng gói trong một packet.
-         Tại tầng 2, packet này được đóng gói trong một frame.
-         Tại tầng 1, frame này được gửi đi trên dây cáp (không khí – nếu là mạng không dây) dưới dạng các bit.
Đơn vị dữ liệu trao đổi tại mỗi tầng gọi là PDU (protocol data unit). Tại tầng 4 là segment, tại tầng 3 là packet, tại tầng 2 là frame.
Lưu ý: tổng kích thước của thông tin sẽ được tăng thêm sau mỗi tầng trong quá trình đóng gói. Và trong quá trình mở gói, thông tin thêm vào (trong quá trính đóng gói) sẽ được gỡ bỏ từng bước qua mỗi tầng trước khi tới tầng application.
Tại mỗi tầng thường có nhiều giao thức để chọn lựa. Ví dụ, các packet có thể được gửi đi bằng giao thức IP hoặc IPX, tuy nhiên, để giao tiếp được với nhau thì tầng tương ứng của hai hệ thống phải sử dụng cùng một loại giao thức.
-----------------------------------------------------------
LGC - Lược dịch “Designing for Cisco Internetwork Solutions”

Đĩa cứng - 4 - FAT32

(Tiếp theo của đĩa cứng_3)

Hệ thống FAT32

Như đã trình bày ở phần trước, đĩa cứng luôn bắt đầu bằng MBR, tiếp sau đó là các partition.
MBR
partition
partition
….
partition
Có hai loại partition là primary partition và extended partition. Extended partition có thể được chia tiếp thành các logical partition. Như vậy, ổ đĩa (C:\, D:\, E:\...v.v) có thể là primary partition hoặc logical partition. Xem hình vẽ minh họa bên dưới.

Mỗi một ổ đĩa logic sẽ sử dụng một hệ thống quản lý tập tin (file system) duy nhất để quản lý các tập tin. Ví dụ ổ đĩa C:\ là FAT32, D:\ là NTFS, E:\ là NTFS.
Phần này tập trung trình bày về hệ thống FAT (cụ thể là FAT32).
FAT (File Allocation Table) là hệ thống quản lý tập tin được phát triển bởi Microsoft vào cuối những năm 1970 – đầu những năm 1980. Hệ điều hành MS-DOS của Microsoft là hệ điều hành đầu tiên sử dụng hệ thống FAT.
Theo thời gian, hệ thống quản lý tập tin này luôn được nâng cấp để hỗ trợ nhiều loại đĩa có dung lượng lớn hơn. Ví dụ: đĩa cứng, đĩa USB, thẻ nhớ…v.v.
Tất cả các hệ điều hành Windows và hầu hết các hệ điều hành Unix đều hỗ trợ hệ thống FAT.
Hệ thống FAT có ba loại: FAT12, FAT16 và FAT32. Sự khác biệt chủ yếu của ba loại này là kích thước của mỗi entry. (entry là một đơn vị lưu trữ, được sử dụng để lưu địa chỉ của các cluster). Mỗi entry trong hệ thống FAT12 là 12 bit, FAT16 là 16 bit và FAT32 là 32 bit.
Cấu trúc của một ổ đĩa logic định dạng theo hệ thống FAT gồm ba vùng:

-          Vùng đầu tiên là Reserved, chứa các thông tin mô tả của hệ thống quản lý tập tin. Vùng Reserved bắt đầu từ sector 0, kích thước của vùng này được lưu trong Boot Sector của ổ đĩa logic (trong VBR). Với FAT12, FAT16 vùng này thường là một sector, với FAT32 gồm nhiều sector.
-          Vùng FAT: chứa hai FAT Structure, vùng này bắt đầu ngay sau vùng Reserved, gồm: một FAT Structure chính, một FAT Structure dự phòng. Kích thước của vùng FAT được tính dựa vào số lượng FAT Structure nhân với kích thước của mỗi FAT Structure, hai thông tin này được lưu trong Boot Sector.
-          Vùng Data chứa các cluster lưu trữ nội dung của tập tin. Vùng này bắt đầu ngay sau vùng FAT. Kích thước được tính bằng tổng sector của ổ đĩa logic trừ đi sector bắt đầu của vùng Data. Tổng số sector của ổ đĩa được lưu trong Boot Sector.
Trong vùng Data, có một cấu trúc dữ liệu quan trọng là Root Directory. Root Directory là siêu dữ liệu của tập tin (file metadata).
Trong hệ thống FAT, mỗi thư mục hoặc tập tin (gọi chung là tập tin) sẽ có một cấu trúc dữ liệu để mô tả nó, gọi là Directory Entry. Directory Entry chứa tên tập tin, kích thước, địa chỉ bắt đầu của vùng nội dung và một số thông tin khác.
Đối với FAT12/FAT16, Root Directory luôn nằm ở phần đầu tiên của vùng Data, có kích thước cố định, kích thước này được lưu trong Boot Sector. Xem hình minh họa dưới đây.

Với FAT32, vị trí bắt đầu của Root Directory không cố định, nó có thể nằm ở vị trí bất kì trong vùng Data, kích thước của Root Directory cũng không cố định, nó có thể tăng lên tùy ý. Địa chỉ bắt đầu của Root Directory được lưu trong Boot Sector, kích thước của Root Directory được tính dựa vào FAT Structure. Xem hình minh họa dưới đây.

-----------------------------------
Cập nhật: 2013/4/1

------------------------------------

Tham khảo

[3] FAT32_Hardware White Paper

Đĩa cứng - 3 - EBR


 (Tiếp theo Đĩa cứng_2)


EBR (Extended Boot Record)

Như đã đề cập ở phần trước, có hai loại partition là: primary partition và extended partition.
Khi extended partition được tạo, hệ thống sẽ dành một entry trong partition table của MBR để mô tả thông tin cho extended partition. Đây được xem như chỉ dẫn để đến được EBR đầu tiên (EBR1).
Mỗi đĩa cứng chỉ có duy nhất một extended partition. Từ extended partition này có thể tiếp tục chia nhỏ thành nhiều logical partition.
EBR là sector chứa thông tin mô tả cho logical partition (ổ đĩa logic) nằm trong extended partition. Như vậy, trong một đĩa cứng có thể không có EBR nào, có một EBR, hoặc có rất nhiều EBR.
Trong các hệ thống DOS/Windows, mỗi logical partition được gán bằng một kí tự trong bảng chữ cái (D:\, E:\ ...v.v).
Khi tạo primary partition, thông tin mô tả về primary partition được lưu trong partition table tại MBR, do chỉ có bốn entry nên số lượng primary partition tạo được nhiều nhất là bốn. Với logical partition thì khác, EBR là sector đầu tiên trong mỗi logical partition, mô tả thông tin về logical partition đó, và nếu có logical partition đằng sau nữa, EBR sẽ chứa một con trỏ (địa chỉ) để trỏ tới EBR kết tiếp. Như vậy, EBR trước sẽ liên kết với EBR sau tạo thành một chuỗi các EBR. Nghĩa là việc tạo các logical partition là không giới hạn, nó chỉ phụ thuộc vào dung lượng của đĩa cứng cấp cho extended partition.
Hình sau minh họa về các EBR :



Cấu trúc của EBR
EBR đầu tiên (EBR1) nằm tại sector bắt đầu của extended partition (logical partition đầu tiên).
Cấu trúc của EBR cũng tương tự như MBR, gồm 512 byte, được mô tả trong bảng dưới đây:
Địa chỉ (offset)
Mô tả
Số byte
Hệ 16
Hệ 8
Hệ 10
0000
0000
0
Không sử dụng
446
01BE
0676
446
Bảng thông tin về các logical partition (partition table)
64
01FE
0776
510
55h
Dấu hiệu nhận dạng
boot sector (0xAA55)
2
01FF
0777
511
AAh
Tổng kích thước:
512
Partition table của EBR gồm 64 byte, gồm bốn entry, mỗi entry 16 byte. Cụ thể như sau:
Địa chỉ
(offset)
Kích thước
(byte)
Mô tả
01BE
16
Thông tin mô tả cho logical partition hiện tại
01CE
16
Nếu có giá trị, là liên kết tới logical partition kế tiếp
01DE
16
Không sử dụng
01EE
16
Không sử dụng
Ví dụ về EBR
Quan sát một phần MBR của đĩa cứng sau:

Entry thứ ba của partition table, bắt đầu tại địa chỉ 0x01DE, kết thúc tại 0x01ED, có trường “partition type” mang giá trị 0x0F, nên đây là entry chứa thông tin về extended partition.
Các trường của entry thứ ba:
Offset
Số byte
Mô tả
0x00
1
“00” – không có khả năng khởi động
0x01
3
“00 81 FD” (ba byte địa chỉ bắt đầu dạng CHS)
0x01
1
0 (head)
0x02
1
1 (sector)
0x03
1
765 (cylinder)
0x04
1
0x0F: extended partition
0x05
3
“FE FE FF” (ba byte địa chỉ kết thúc dạng CHS)
0x05
1
 254(head)
0x06
1
 63(sector)
0x07
1
 1023(cylinder)
0x08
4
“BD 86 BB 00” (sector bắt đầu là: 12289725)
0x0C
4
“57 64 44 00” (tổng số sector: 4482135; ~2,3GB)
Từ thông tin mô tả của extended partition ở trên, có hai thông tin quan trọng: sector bắt đầu của extended partition là 12289725 và kích thước là ~2,3GB.
Nội dung của EBR đầu tiên (EBR1) nằm tại sector 12289725.
Sector 12289725 được minh họa trong hình sau:

EBR1 gồm 512 byte, trong đó chỉ có trường partition table là có dữ liệu. Trường partition table bắt đầu tại địa chỉ 0x01BE, gồm 64 byte. Cụ thể:
Địa chỉ
(offset)
Kích thước (byte)
Mô tả
01BE
16
Thông tin mô tả về logical partition đầu tiên (ổ đĩa D:\)
01CE
16
Liên kết tới phần mô tả thông tin cho logical partition kế tiếp (EBR2)
01DE
16
Không sử dụng
01EE
16
Không sử dụng
Entry đầu tiên của partition table, bắt đầu tại 0x01BE, kết thúc tại 0x01CD là thông tin mô tả cho logical partition đầu tiên (ổ đĩa logic đầu tiên của Extended partition), cụ thể:
Offset
Số byte
Mô tả
0x00
1
“00” – không có khả năng khởi động
0x01
3
“01 81 FD” (ba byte địa chỉ bắt đầu dạng CHS)
0x01
1
1 (head)
0x02
1
1 (sector)
0x03
1
765 (cylinder)
0x04
1
0x0B: FAT32
0x05
3
“FE FF 7C” (ba byte địa chỉ kết thúc dạng CHS)
0x05
1
 254(head)
0x06
1
 63(sector)
0x07
1
 892(cylinder)
0x08
4
“3F 00 00 00” (sector bắt đầu là: 63)
0x0C
4
“41 60 1F 00” (tổng số sector: 2056257; ~1GB)
Lưu ý: sector bắt đầu của ổ đĩa logic (dạng LBA) là số sector tương đối, nghĩa là, tính từ nơi bắt đầu của extended partition.
Entry thứ hai của partition table, bắt đầu tại 0x01CE, kết thúc tại 0x01DD là thông tin liên kết đến EBR2. Cụ thể:
Offset
Số byte
Mô tả
0x00
1
“00” – không có khả năng khởi động
0x01
3
“00 C1 7D” (3 byte địa chỉ bắt đầu dạng CHS)
0x01
1
0 (head)
0x02
1
1 (sector)
0x03
1
893 (cylinder)
0x04
1
“05” – extended partition
0x05
3
“FE FF FF” (3 byte địa chỉ kết thúc dạng CHS)
0x05
1
 254(head)
0x06
1
 63(sector)
0x07
1
 1023(cylinder)
0x08
4
“80 60 1F 00” (địa chỉ LBA, sector bắt đầu là: 2056320)
0x0C
4
“D7 03 25 00” (tổng số sector: 2425815; ~1,2GB)
Từ thông tin về EBR2, biết được EBR2 bắt đầu tại sector: 2056320. Đây cũng chính là sector chứa nội dung của EBR2.
Vì sector bắt đầu của EBR2 là vị trí tương đối, nên để tới được sector vật lý của EBR2, cần phải cộng thêm sector bắt đầu của Extended partition: 2.056.320 + 12.289.725 = 14.346.045.
Đọc sector 14.346.045, được kết quả như hình dưới đây:

Vì trong extended partition chỉ tạo hai logical partition (hai ổ đĩa logic), nên chỉ có 2 EBR, EBR2 không còn liên kết tới EBR nào nữa.
Dưới đây là nội dung partition table của EBR2:
Địa chỉ dạng Hex (offset)
Kích thước (byte)
Mô tả
01BE
16
Thông tin mô tả cho logical partition thứ hai (ổ đĩa E:\)
01CE
16
Không sử dụng
01DE
16
Không sử dụng
01EE
16
Không sử dụng
Thông tin mô tả cho logical partition thứ hai của extended partition (ổ đĩa E:\):
Offset
Số byte
Mô tả
0x00
1
“00” – không có khả năng khởi động
0x01
3
“01 C1 7D” (3 byte địa chỉ bắt đầu dạng CHS)
0x01
1
1 (head)
0x02
1
1 (sector)
0x03
1
893 (cylinder)
0x04
1
“0B”: FAT32
0x05
3
“FE FF FF” (3 byte địa chỉ kết thúc dạng CHS)
0x05
1
 254(head)
0x06
1
 63(sector)
0x07
1
 1023(cylinder)
0x08
4
“3F 00 00 00” (địa chỉ LBA, sector bắt đầu là: 63)
0x0C
4
“98 03 25 00” (tổng số sector: 2425752; ~1,2GB)

----------------------
Cập nhật: 2013_3_5
----------------------
Tham khảo:
[3] FAT32_Hardware White Paper
[4] http://en.wikipedia.org