--------------- <> -----------------
--- KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - GIÁO DỤC - VIỆC LÀM ---
--- Học để đi cùng bà con trên thế giới ---

Tìm kiếm trong Blog

Cau hinh may cham cong van tay Sunbeam X649C - 1



Cài đặt máy chấm công vân tay Sunbeam X649C (phần 1)

Chuẩn bị:

  • Máy chấm công
  • Máy tính
  • Cáp thẳng UTP
  • Phần mềm quản lý máy chấm công YiShang

Kết nối máy chấm công với máy tính

Kết nối máy chấm công với máy tính bằng cáp UTP, cáp thẳng (straight).
Kết nối:
  • Có thể kết nối trực tiếp (máy chấm công <-> máy tính)
  • Thông qua switch (máy chấm công <-> switch <-> máy tính)
  • Hoặc thông qua wireless router (máy chấm công <-> wireless router <-> máy tính)…v.v.

Cấu hình IP cho Sunbeam X649C

  • Cắm nguồn điện cho máy chấm công, bật công tắc điện trên máy chấm công, khởi động máy chấm công (nút có biểu tượng hình tròn màu đỏ).
  • (Trên máy chấm công). Bấm nút Menu\ chọn Cài đặt\ chọn Thiết bị\ chọn Địa chỉ IP, nhập địa chỉ IP sao cho cùng mạng với máy tính đang được kết nối với máy chấm công. Ví dụ: địa chỉ IP của máy tính là 192.168.1.4/24, thì địa chỉ IP của máy chấm công là 192.168.1.200
  • (Trên máy tính). Thực hiện ping từ máy tính tới máy chấm công để kiểm tra xem hai thiết bị đã thông với nhau chưa, trường hợp dưới đây là đã thông. Nếu chưa thông thì nên kiểm tra lại địa chỉ IP và subnet mask của hai thiết bị, dây cáp.
C:\Documents and Settings\Maxsys>ping 192.168.1.200
Pinging 192.168.1.200 with 32 bytes of data:
Reply from 192.168.1.200: bytes=32 time<1ms TTL=100
Reply from 192.168.1.200: bytes=32 time=26ms TTL=100
Reply from 192.168.1.200: bytes=32 time<1ms TTL=100
Reply from 192.168.1.200: bytes=32 time=19ms TTL=100
Ping statistics for 192.168.1.200:
    Packets: Sent = 4, Received = 4, Lost = 0 (0% loss),
Approximate round trip times in milli-seconds:
    Minimum = 0ms, Maximum = 26ms, Average = 11ms

Cài đặt phần mềm quản lý máy chấm công

Chạy phần mềm và kết nối với máy chấm công

(Thực hiện trên máy tính)
Chạy phần mềm máy chấm công. Thực hiện đăng nhập vào phần mềm.
User Name: admin
Password: (để trắng)
Bấm Login On để đăng nhập.

Giao diện của phần mềm


Kết nối tới máy chấm công

Chọn Device\ chọn Add\ chọn Fingerprint Time Attendance Machine (2010)\ bấm Confirm

Mục Communication cho phép bạn chọn hình thức kết nối máy chấm công với máy tính, do dùng cáp UTP nên chọn Ethernet.
Nhập địa chỉ IP của máy chấm công (192.168.1.200), bấm nút Save để lưu lại.

Thử kết nối tới máy chấm công xem được chưa?
Bấm nút Online testing, nếu kết quả là “device connects successfully”, nghĩa là đã kết nối thành công. (hình bên dưới).

Tới đây, bạn có thể nhập vân tay của các nhân viên vào máy chấm công (bước 1), nhập tên của các nhân viên vào phần mềm (YiShang) (bước 2), và khớp hai cái này (vân tay <> tên nhân viên) lại với nhau.
Phải thực hiện ba bước này vì máy chấm công chỉ gán cho mỗi vân tay một mã số (gọi là ID), cụ thể đây chỉ là số thứ tự. Để hiển thị được tên của nhân viên trên máy chấm công cần phải liên kết vân tay của nhân viên trên máy chấm công với tên của họ được tạo ra ở phần mềm (YiShang).

Nhập vân tay của nhân viên vào máy chấm công (bước 1)

Thực hiện trên máy chấm công.
Lưu ý: nút OK để chấp nhận, mở, hoặc thực hiện yêu cầu. Nút ESC để thoát chức năng, không lựa chọn, hủy, trở lại bước trước…v.v. Nút mũi tên “lên”, “xuống” để di chuyển giữa các mục.
-------------------------------------------------------------------------------------------------

Ví dụ, nếu máy đang lưu ba vân tay của ba nhân viên rồi thì ID hiện tại đang có sẵn sẽ là 0004. Bạn có thể dùng nút mũi tên “lên”, “xuống” để lựa chọn các ID khác.
Một nhân viên có thể nhập nhiều hơn một vân tay, tối đa là ba (vân tay của ba ngón khác nhau), trong trường hợp này ID sẽ có dạng XXXX-0, XXXX-1…v.v. Ví dụ, ID 00004 có ba vân tay (ngón trỏ trái, ngón trỏ phải, ngón giữa phải), sẽ có ba ID là 00004-0, 00004-1, 00004-2.
(nếu ID 00004-0 là ngón trỏ phải của nhân viên 1, 00004-1 là ngón trỏ phải của nhân viên 2, 00004-2 là ngón trỏ phải của nhân viên 3, thì chuyện gì xảy ra?)
-------------------------------------------------------------------------------------------------


Bấm nút MENU, chọn Ghi danh, chọn Gdanh Ndùng, chọn Vân tay, màn hình sẽ hiển thị ID chưa sử dụng.

Bấm OK để chọn ID.
-         Màn hình sẽ hiển thị: ID (Ví dụ 00004-0) + Nhập vtay Lần đầu, nhắc nhân viên để ngón tay (ví dụ: ngón trỏ phải) chạm vào khu cảm biến nhận dạng vân tay (trong khoảng một đến hai giây) (đèn màu xanh).
-         Màn hình tiếp tục hiển thị: ID (Ví dụ 00004-0) + Nhập vtay Lần thứ 2, nhắc nhân viên để ngón tay (ví dụ: ngón trỏ phải) chạm vào khu cảm biến nhận dạng vân tay (trong khoảng một đến hai giây) (đèn màu xanh).
-         Màn hình tiếp tục hiển thị: ID (Ví dụ 00004-0) + Nhập vtay Lần thứ 3, nhắc nhân viên để ngón tay (ví dụ: ngón trỏ phải) chạm vào khu cảm biến nhận dạng vân tay (trong khoảng một đến hai giây) (đèn màu xanh).
Sau ba lần nhập vân tay, máy chấm công sẽ xác nhận việc nhập vân tay thành công, và hỏi bạn có muốn tiếp tục nhập vân tay của ngón tay khác không (ID lúc này sẽ là 00004-1). Bấm phím OK để nhập thêm vân tay của ngón tay khác. Bấm ESC để nhập vân tay cho nhân viên khác (ID lúc này sẽ là 00005-0). Bấm ESC hai lần để kết thúc việc nhập vân tay.
Thông thường mỗi nhân viên nhập vân tay của một ngón. Bạn cũng có thể nhập một nhân viên hai hoặc ba ngón tay khác nhau.
-------------------------------
2013/12/5

Wireless Network - TH - 1



Bài 1
 Nội dung
-         Thiết lập mạng không dây đơn giản
-         Thực hành trên phần mềm Packet tracer 5.3 của Cisco

Hướng dẫn
-         Thiết lập mạng không dây gồm: hai máy tính xách tay (Laptop1, Laptop2); một thiết bị phát sóng (Wireless Router).
Các bước thực hiện
1. Thiết lập hệ thống mạng
-         Mở Packet tracer (viết tắt PT).
-         Tại màn hình giao diện của PT, chọn Wireless Devices, chọn Linksys, kéo và thả vào màn hình thiết kế.



-         Chọn End Devices, chọn Generic Laptop, kéo và thả vào màn hình thiết kế hai Generic Laptop.

2. Cấu hình Wireless Router
-         Bấm chuột vào Wireless Router trên màn hình thiết kế, chọn tab GUI, chọn mục Setup.

-         Gán địa chỉ IP (ví dụ: 192.168.0.1) và Subnet Mask (ví dụ: 255.255.255.0) cho Wireless Router (hình trên).
-         Đánh dấu chọn vào mục Enable trong khung DHCP để kích hoạt chức năng DHCP của Wireless Router, giúp Wireless Router có thể cấp địa chỉ IP cho các máy kết nối tới.
-         Điền địa chỉ bắt đầu của dải địa chỉ IP sẽ cấp cho các máy vào mục Start IP Address.
-         Điền số địa chỉ IP mà Wireless Router có thể cấp phát vào ô: Maximum number of Users (ví dụ 50).
-         Dải địa chỉ IP ở hình bên dưới là từ 192.168.0.100 đến 192.168.0.149. Tổng cộng 50 địa chỉ.

-         Bấm nút Save Settings (ở cuối cửa sổ) để lưu lại các cấu hình vừa thực hiện.
-         Chọn tab Wireless, trong mục Network Name (SSID), nhập tên cho mạng wireless. Ví dụ: CongTyABC. Các mục còn lại để mặc định. Bấm nút Save Settings để lưu lại các cấu hình vừa thực hiện.

-         Tên này sẽ xuất hiện trong cửa sổ đăng nhập mạng không dây của máy tính người dùng như hình dưới đây.

3. Cấu hình Laptop để kết nối tới mạng không dây thông qua Wireless Router
-         Bấm chuột vào Laptop0, bấm vào nút Power để tắt nguồn (bước 1). Gỡ bỏ cạc Dial-up bằng cách kéo cạc mạng và thả vào khung MODULES (bước 2). Gắn thêm cạc WLAN – Linksys-WP300N bằng cách kéo cạc Linksys-WP300N từ MODULES vào Laptop (bước 3). Bấm lại vào nút Power để bật nguồn Laptop.

-         Chọn tab Desktop, chọn mục PC Wireless. Kết quả:

-         Chọn tab Connect, chọn mạng CongTyABC, bấm nút Connect để kết nối tới mạng không dây.

-         Thực hiện tương tự cho Laptop1.
-         Đóng cửa sổ cấu hình cho Laptop, trở ra màn hình chính của PT để quan sát kết quả.


Bài tập
  1. Cho biết địa chỉ IP, Default Gateway của hai máy Laptop?
  2. Thực hiện ping từ hai máy Laptop tới Wireless Router, chụp lại kết quả?
  3. Địa chỉ Default Gateway trên hai Laptop dùng để làm gì? Làm sao để thay đổi địa chỉ này (ví dụ: thành 192.168.1.1). Chụp lại các bước làm?
-----------------------
2013/12/4

Dia cung - 17 - NTFS - Lập chỉ mục cho các attribute

(tiếp theo của Dia cung 16)



Lập chỉ mục (Index) cho các attribute trong hệ thống NTFS

Phần trên đã trình bày những kiến thức cơ bản về B-tree. Phần này sẽ trình bày cách NTFS sử dụng B-tree để tạo các index cho các attribute.
Hệ thống NTFS sử dụng B-tree để chứa các attribute (dưới dạng các danh sách - list). Mỗi nút trong B-tree gồm nhiều index entry. Một index entry gồm phần header và phần attribute. Entry kết thúc của danh sách là một entry rỗng.
Hình sau minh họa một nút gồm bốn index entry của một thư mục, mỗi index entry chứa header của entry và attribute $FILE_NAME.

Các nút của B-tree được lưu trữ trong hai loại attribute tại MFT entry, một là attribute $INDEX_ROOT và hai là attribute $INDEX_ALLOCATION.
Attribute $INDEX_ROOT là attribute thường trú (resident), chỉ chứa được một nút với số lượng index entry rất ít. Attribute $INDEX_ROOT luôn chứa nút gốc (root) của cây chỉ mục (index tree).
Attribute $INDEX_ALLOCATION là attribute không thường trú (non-resident), chứa được nhiều nút. Như đã biết, một attribute được chia thành hai phần: attribute header và attribute content. Với attribute $INDEX_ALLOCATION, phần attribute content được chia thành các đoạn có kích thước 4 096 byte, gọi là index record. Index record được sử dụng để chứa các index entry. Các index record được đánh địa chỉ, bắt đầu từ 0.
Hình dưới đây minh họa một thư mục có ba index entry trong attribute $INDEX_ROOT và ba index record trong attribute $INDEX_ALLOCATION, vị trí của các index record bắt đầu tại cluster 713.

Attribute $INDEX_ALLOCATION có thể còn không gian trống chưa được dùng bởi các index record. Hệ thống NTFS sử dụng attribute $BITMAP để quản lý trạng thái sử dụng các index record và cấp phát không gian đĩa cho các index record. Khi cần tạo một nút mới cho cây, hệ thống sẽ tham chiếu tới attribute $BITMAP để tìm một index record còn trống, nếu không tìm được, hệ thống sẽ cấp thêm không gian cho attribute $INDEX_ALLOCATION.
Mỗi chỉ mục sẽ được đặt tên riêng, tên này cũng được sử dụng lại trong header của các attribute $INDEX_ROOT, $INDEX_ALLOCATION và $INDEX_BITMAP thuộc về chỉ mục.
Mỗi index entry có một “cờ báo” (flag), cho biết index entry này có nút con hay không? Nếu có nút con, địa chỉ của các index record chứa nút con sẽ được lưu trong index entry.
Các index entry trong mỗi nút luôn được sắp thứ tự, nếu giá trị cần tìm nhỏ hơn index entry và index entry này có nút con, khi đó sẽ thực hiện tìm ở nút con của nó. Nếu gặp entry trống ở cuối của danh sách, việc tìm sẽ được thực hiện trên các nút con.
Sau đây là một số ví dụ về chỉ mục.
Ví dụ: một chỉ mục gồm ba index entry, chứa vừa đủ trong $INDEX_ROOT. Trong trường hợp này hệ thống chỉ tạo ra $INDEX_ROOT để chứa ba index entry trên và một index rỗng ở cuối danh sách. Xem hình bên dưới.

Ví dụ: một chỉ mục gồm 15 index entry, attribute $INDEX_ROOT không thể chứa hết 15 index entry này. Một index record trong attribute $INDEX_ALLOCATION được sử dụng để chứa chỉ mục này. Xem hình minh họa bên dưới.

Ví dụ: một index record đang ở trạng thái đã được lấp đầy bởi các index entry, giả sử cần thêm index entry vào cây, hệ thống sẽ tạo ra một cây gồm ba nút. Khi đó, cây sẽ gồm một nút gốc (root node), và hai nút con. Mỗi nút con được lưu trong một index record riêng tại attribute $INDEX_ALLOCATION. Các entry trong nút $INDEX_ROOT sẽ có trường để trỏ tới $INDEX_ALLOCATION. Xem hình bên dưới.
 ------------------------------

Tham khảo
[1] Brian Carrie, File System Forensic Analysis, Addison Wesley Professional, 2005
----------------------
Cập nhật: 2013/11/15


Hình ảnh

Chỗ "cày cuốc" của mấy bạn (2020_05_04)


------
Một ngọn núi sừng sững trước mặt, vừa xa vừa cao. Nhìn lại mình, mềm yếu, bé nhỏ. Nhưng cái ý chí trong đầu lại đang mách bảo, cứ đi đi, . Trên đó chắc có gì đó hay hay, có mây, có gió, lên một bước, tầm nhìn xa hơn, rộng hơn một chút, được in dấu chân nhỏ của mình trên ngọn núi cao.
Một bước, hai bước,...nhiều bước, chân bắt đầu thấy mỏi, thấy mệt, ý chí giảm dần. Hay là dừng lại nhỉ. Đầu hàng khó khăn à? Nhìn đứa bên cạnh, không thấy nó nói gì, im lặng, từng bước, nó đi. Chắc nó đang nghĩ "Hành trình nhiều dặm bắt đầu bằng mỗi bước chân". "Ở đâu có ý chí ở đó có con đường".
Một "nhóm" người vừa đi, vừa cười, vừa giỡn, vừa nghĩ.
Nghĩ gì? hổng biếc he he 
(Ảnh: Langbiang 2020/03/01 - LG1,2,3 + )


------
Blended learning (học trực tuyến và trực diện) - Flipped classroom (Lớp học đảo ngược)


---------

Thuat ngu CNTT - 0 - Tai lieu tham khao

[11] Thế mới cần phải có từ điển thuật ngữ

- Một đại biểu quốc hội phát biểu "...nhiều từ ngữ trong luật không có trong Từ điển tiếng Việt...".

- Phản hồi của Phạm Duy Nghĩa

"Luật học có ngôn ngữ chuyên ngành riêng, thường hàm súc, khái quát hóa đến cùng cực, các thẩm phán khi áp dụng sẽ diễn giải những thuật ngữ này. Bởi thế, ngoài Từ điển Tiếng Việt, muốn đọc và hiểu luật, phải có từ điển thuật ngữ luật học chuyên ngành. Tựa như Dược học, Y học... cũng có ngôn ngữ chuyên ngành riêng. Thành ra, ngôn ngữ trong một đạo luật, hiển nhiên cũng là tiếng Việt, song là một thứ tiếng Việt đã được mài giũa, khái quát hóa, muốn đọc và hiểu, cần tới những phương pháp phân tích luật của nhà chuyên môn./."

Nhiều từ ngữ trong luật không có trong Từ điển tiếng Việt/Lao Động
--------------------------

[10] Tiếng Việt - Từ điển - Xuất bản
"Từ, ngữ tiếng Việt hiện tại cũng chưa có một quy chuẩn thật rõ ràng và thống nhất, nhất quán từ dưới lên trên. Không nói đâu xa, trong làng báo, giữa báo Bắc và báo Nam đã có những phân biệt, định giới ngầm không văn bản như miền Nam thì dùng chữ hy sinh (y dài) còn báo Bắc là hi sinh (I ngắn). Những ví dụ như vậy có thể kể ra “thập loại”. Nên chăng, những sách khảo cứu vừa thông dụng - ứng dụng vừa bình dân - hàn lâm như Từ điển cần đó những Hội đồng giám định trước khi xuất bản ví như Viện Khoa học Xã hội, Viện Ngôn ngữ."
------------------------------------
[9] Sự hình thành và phát triển của thuật ngữ tiếng Việt - GS Hoàng Văn Hành


-         Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường
-         Mô phỏng thuật ngữ nước ngoài
-         Tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài
Kết quả của ba quá trình thuật ngữ là ba lớp thuật ngữ:
-         Lớp thuật ngữ thuần Việt
-         Lớp thuật ngữ mô phỏng 
-    Lớp thuật ngữ quốc tế

Sự hình thành và phát triển của thuật ngữ tiếng Việt
-------------------------------------
[8] Lời dẫn của Danh từ khoa học - GS Hoàng Xuân Hãn
"...bàn về đặc điểm của danh từ khoa học và nêu lên tám yêu cầu khi đặt một danh từ khoa học mới, chưa có trong tiếng Việt

Đồng thời, tác giả còn nêu lên các phương pháp để đặt danh từ khoa học, có tham khảo đến cách làm của các nước lân cận như Trung Quốc, Nhật... và cách mà tác giả đã sử dụng để tạo ra các danh từ khoa học trong chính cuốn sách này..."
Lời dẫn
------------------------------------
[7] Ngôn ngữ vùng đất mới - Hồ Anh Thái
Ngôn ngữ vùng đất mới
------------------------------------
[6] 130 năm thăng trầm chữ Việt
Kì 1. Hai thế kỉ và một quyết định
Kì 2. Ai học chữ Việt đầu tiên
Kì 3. Cưỡng bách và phản kháng
Kì 4. Bước ra khỏi giáo hội
Kì 5. Báo chí tiên phong
Kì 6. Ngọn lửa Đông Kinh nghĩa thục
Kì cuối. Quốc ngữ của một nước độc lập
--------------------------------------
[5] Tại sao lại nói là "vào Nam ra Bắc" mà không nói là "vào Bắc ra Nam"?
Triết lý tiếng Việt trong "vào Nam ra Bắc" - Nguyễn Đức Dân
---------------------------------------
[4] [Từ "đến từ" bị dùng sai]
Một con sâu lớn đang tàn phá "Vườn tiếng Việt"
---------------------------------------
[3] [Trang chuyên về Việt hóa thuật ngữ
Nơi đề nghị, góp ý, thảo luận, học hỏi lẫn nhau và phổ biến các thuật ngữ mới trong Tiếng Việt]
Việt Hóa Thuật Ngữ
----------------------------------------
[2] [Nói đúng, viết đúng tiếng Việt]
Thế Nào Là Tiếng Việt Trong Sáng? - Đào Văn Bình
Thế Nào Là Tiếng Việt Trong Sáng? (II)
----------------------------------------
[1][Cấu trúc vĩ mô của từ điển thuật ngữ CNTT - Viện Từ điển học & Bách khoa thư Việt Nam
Tác giả nhầm IT = Informations Technology]
Một số vấn đề về cấu trúc vĩ mô của Từ điển thuật ngữ Công nghệ thông tin ở Việt Nam