--------------- <> -----------------
--- KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - GIÁO DỤC - VIỆC LÀM ---
--- Học để đi cùng bà con trên thế giới ---

Tìm kiếm trong Blog

Wireless Network_3_Các ứng dụng của WLAN

Cung cấp khả năng truy cập mạng một cách linh hoạt

Cho phép người dùng có thể sử dụng các thiết bị truy cập mạng không dây, để truy cập mạng tại mọi vị trí có phủ sóng WLAN.

Ví dụ, là 1 nhân viên quản trị mạng, bạn có nhiệm vụ đảm bảo cho hệ thống mạng hoạt động liên tục. Để làm việc này, bạn sẽ cài đặt chương trình giám sát mạng trên hệ thống máy server, nếu có sự cố về hệ thống mạng, chương trình sẽ gửi thông báo qua email của bạn. Bạn sẽ không cần thiết phải ngồi trực bên chiếc máy tính tại bàn làm việc, để kiểm tra email thường xuyên, mà có thể sử dụng các thiết bị di động (PDA, laptop, smartphone…v.v) để kiểm tra email trong khi di chuyển, học tập, hội họp…v.v. và có thể lập tức xử lý sự cố.

Mở rộng mạng

Cho phép mở rộng mạng tại các khu vực đặc biệt, ví dụ: các khu vực không thể đi dây cáp, không được thay đổi kết cấu của tòa nhà, địa hình hiểm trở…v.v.

Nối mạng giữa các tòa nhà cách xa nhau

Để kết nối mạng giữa các tòa nhà cách xa nhau, có thể kết nối bằng cáp (chôn dưới lòng đất, hoặc treo trên các cột trụ), giải pháp này chi phí cao, khó thi công vì đường đi của cáp có thể liên quan tới nhiều chủ thể khác nhau; có giải pháp khác là thuê đường truyền riêng từ các công ty điện thoại, giải pháp này chi phí cao, do phải trả phí hàng tháng.

Giải pháp thứ 3 cho trường hợp này là sử dụng WLAN, bằng cách cài đặt cầu nối không dây (wireless bridge) tại mỗi tòa nhà. Có thể sử dụng mô hình kết nối điểm tới điểm (point – to – point) hoặc điểm tới đa điểm (point – to – multipoint).

Cung cấp dịch vụ truy cập mạng không dây

Nhà cung cấp dịch vụ internet không dây (WISP – wireless internet service provider) là 1 nhà cung cấp dịch vụ internet dựa trên công nghệ không dây. Với người sử dụng ở những khu vực đặc biệt, việc triển khai lắp đặt đường dây kết nối internet khó khăn, chí phí cao, hoặc không thể thực hiện, thì giải pháp mạng không dây là lựa chọn tốt nhất cho họ.

WISP có thể hoàn toàn sử dụng công nghệ IEEE 802.11 hoặc WiMAX (IEEE 802.16) hoặc kết hợp giữa WiMAX và IEEE 802.11

Sử dụng cho văn phòng quy mô nhỏ (SOHO – small office/home office)

Đối với các văn phòng nhỏ, với khoảng 10 đến 15 máy tính, ví dụ: văn phòng luật sư, một trung tâm tư vấn xây dựng, cửa hàng in ấn,…v.v. có thể chỉ cần sử dụng 1 wireless router để thiết lập hệ thống mạng cho toàn văn phòng với chi phí thấp, triển khai nhanh.

Nếu sử dụng wireless router có kèm chức năng của 1 modem ADSL (ví dụ Linksys WRT54G) có thể cung cấp 2 dịch vụ cùng 1 lúc: kết nối các máy trong mạng nội bộ với nhau và cung cấp đường truy cập internet cho cả văn phòng.

Sử dụng trong tình huống cần thiết lập mạng trong thời gian ngắn

Trong các tình huống đặc biệt, cần hệ thống mạng để làm việc trong thời gian ngắn, thiết lập đơn giản, nhanh chóng, ví dụ: văn phòng của công trường xây dựng, văn phòng điều hành khắc phục hậu quả trong vùng bị thiên tai …v.v. Mạng không dây là 1 lựa chọn tốt.

Có thể sử dụng thiết bị vừa có chứng năng của 1 access point vừa hỗ trợ kết nối WAN, giúp kết nối các máy tính nội bộ với nhau và kết nối internet, ví dụ dòng thiết bị SonicWALL.

Sử dụng trong trường học

Với hệ thống WLAN các giáo viên có thể làm việc ở mọi vị trí, không bị bó buộc vào bàn làm việc cố định, giáo viên có thể khai thác các tài nguyên từ internet từ máy labtop mà không cần phải sử dụng đến cáp kết nối. Sinh viên có thể truy cập mạng internet và intranet để tham khảo các tài liệu, học tập, nộp bài và thực hiện kiểm tra qua mạng.

Sử dụng trong các nhà máy, nhà kho

Với môi trường này, khi triển khai WLAN cần khảo sát kĩ, để tránh vấn đề về nhiễu sóng, do các thiết bị trong nhà kho hoặc nhà máy gây ra.

Sử dụng trong bệnh viện

Sử dụng WLAN giúp các bác sĩ có thể nhanh chóng xác định được thông tin về các bệnh nhân cũng như các thông tin về y học thông qua kết nối mạng intranet và internet bằng các thiết bị truy cập WLAN. Vấn đề quan trọng hàng đầu trong hệ thống WLAN tại bệnh viện là phải đảm bảo thông tin được bảo mật.

Cung cấp khả năng truy cập mạng ở nơi công cộng

Ở nơi công cộng như quán cà phê, sân bay, bến xe, …có thể thiết lập các điểm phát sóng WLAN (gọi là các Wi-Fi hotspot) cho mọi người truy cập internet có thu phí hoặc miễn phí.

---------------------------

Tham khảo

[8] Tom Carpenter, 2008, CWNA Official Study Guide, Mc Graw-Hill

-----

Bạn muốn tự học HTML bài bản? Xem thêm

Wireless Network_2_Phân loại mạng không dây

Phân loại mạng không dây theo vùng phủ sóng (trải phổ)

Mạng không dây được chia thành 4 loại chính:

o Wireless PAN (WPAN)

o Wireless LAN (WLAN)

o Wireless MAN (WMAN)

o Wireless WAN (WWAN)

WPAN (wireless personal area network)

Mạng không dây cá nhân, được sử dụng để kết nối các thiết bị trong phạm vi hẹp, băng thông nhỏ, ví dụ: kết nối giữa máy tính cá nhân với tai nghe (headphone), máy in, bàn phím, chuột; kết nối giữa tai nghe với điện thoại di động…v.v. Các công nghệ thường được sử dụng là: Bluetooth, Wibree, UWB…v.v.

Công nghệ Bluetooth hoạt động ở băng tần 2,4Ghz nên có thể gây nhiễu cho các mạng WLAN, tuy nhiên, các cải tiến kĩ thuật của các thiết bị Bluetooth gần đây đã làm giảm tình trạng này.

WLAN

WLAN là hệ thống mạng LAN không dây, hiện tại (năm 2012), WLAN đang được triển khai dựa trên các chuẩn đã được cải tiến từ IEEE 802.11, cụ thể là IEEE 802.11g và IEEE 802.11n. Mạng này cung cấp khả năng kết nối lưu động, không cần cáp nối giữa các thiết bị. Khả năng kết nối lưu động cho phép người sử dụng có thể kết nối mạng khi di chuyển trong vùng phủ sóng của các điểm truy cập (access point).

Mạng WLAN có thể triển khai theo 3 vai trò: vai trò điểm truy cập (access role), vai trò phân tán (distribution role) và vai trò truyền tại lớp lõi (core role).

Tuy nhiên, do vấn đề về băng thông và tính ổn định, nên mạng WLAN chủ yếu vẫn được sử dụng để triển khai ở vai trò điểm truy cập, đóng vai trò như 1 điểm kết nối cho các máy tính kết nối vào mạng có dây. Access point được kết nối cố định vào mạng Ethernet, trong đó có các tài nguyên cần thiết cho người sử dụng như: máy chứa dữ liệu (file server), máy in, kết nối internet…v.v.

Ở vai trò phân tán, các cầu nối không dây cung cấp kết nối giữa các mạng có dây (kết nối backhaul), mỗi mạng được kết nối vào cổng Ethernet của cầu nối không dây, cầu nối không dây sẽ truyền dữ liệu qua các cầu nối không dây của các mạng khác, giúp các mạng có thể truyền dữ liệu qua nhau.

Vai trò truyền tại lớp lõi, trong vai trò này, hạ tầng mạng sẽ hoàn toàn dựa trên WLAN, giải pháp này chỉ thích hợp cho các mạng nhỏ cần phải thiết lập tốc hành, ví dụ: các mạng tại khu vực xây dựng, các vùng bị thiên tai.

WMAN (wireless metropolitan area network)

Mạng không dây đô thị, được triển khai bởi các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông. Được triển khai dựa trên chuẩn IEEE 802.16. Công nghệ được sử dụng nhiều nhất là WiMAX. Băng tần sử dụng từ 2Ghz tới 11 Ghz. Băng thông 40Mbps cho kết nối tầm nhìn thẳng (line of sight) cố định và 15 Mbps cho kết nối không theo tầm nhìn thẳng, di động.

Mạng WMAN thích hợp cho các vùng địa lý hiểm trở, hoang vắng, vì không phải triển khai hạ tầng cáp tốn kém.

WWAN

Mạng diện rộng (WAN – wide area network) được sử dụng để kết nối các mạng LAN lại với nhau. Với các mạng LAN cách xa nhau, có nhiều công nghệ được sử dụng để kết nối chúng, ví dụ: công nghệ frame relay, công nghệ quay số dựa trên hạ tầng mạng điện thoại (analog dial-up), DSL, ISDN …v.v.

Với công nghệ WAN, để kết nối 2 mạng LAN ở xa, chúng ta cần sử dụng các loại cáp để kết nối mạng LAN tới mạng trục chính (backbone), và ở đầu còn lại, cũng cần sử dụng cáp để kết nối từ mạng trục chính tới mạng LAN. Công nghệ WWAN hoàn toàn khác, chúng ta không cần sử dụng dây dẫn để kết nối từ mạng LAN tới mạng trục chính và từ mạng trục chính tới mạng LAN ở xa.

Các công nghệ WWAN phổ biến hiện nay sử dụng công nghệ truyền thông quang vô tuyến (FSO – free space optics), các sóng vô tuyến được cấp phép và không cần cấp phép, hoặc kết hợp cả hai loại trên.

Với các mạng LAN gần nhau có thể sử dụng FSO, các sóng được cấp phép hoặc không cần cấp phép để kết nối, tuy nhiên, nếu mạng LAN cách xa nhau (khoảng vài trăm km) thì cần liên hệ với các nhà cung cấp dịch vụ.

Điểm khác biệt quan trọng giữa WWAN với WLAN, WPAN, và WMAN là WWAN thực hiện gộp nhiều kênh lại (ghép kênh - multiplexing) và truyền trên 1 liên kết đơn.

----------------------------

Tham khảo

[8] Tom Carpenter, 2008, CWNA Official Study Guide, Mc Graw-Hill

Wireless Network_1_Các tổ chức

Chương 1. Tổng quan về mạng không dây

Nội dung

o Các tổ chức

o Phân loại mạng không dây

o Ứng dụng của mạng không dây

Mạng cục bộ không dây (wireless local area network – WLAN) hiện nay đang được sử dụng rộng rãi, song song với mạng có dây. Việc triển khai mạng không dây trong các tổ chức, công ty đang là xu hướng chung. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với hệ thống mạng không dây chính là vấn đề bảo mật.

Vai trò của một số tổ chức trong lĩnh vực mạng không dây

Có thể chia các tổ chức thành 3 loại, theo chức năng:

o Cơ quan quản lý: đưa ra các quy định quản lý chung, liên quan đến lĩnh vực mạng không dây. Ví dụ: về chuẩn kỹ thuật viễn thông và tần số vô tuyến điện, an toàn bức xạ vô tuyến điện của thiết bị vô tuyến điện, thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điện, đài vô tuyến điện. An toàn tương thích điện từ của thiết bị vô tuyến điện, thiết bị viễn thông, thiết bị công nghệ thông tin, thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điện và thiết bị điện, điện tử. Lắp đặt, vận hành, kiểm thử thiết bị mạng, hạ tầng kỹ thuật viễn thông…v.v.

o Tổ chức quản lý các chuẩn về công nghệ: đưa ra các tiêu chuẩn về công nghệ, dựa vào các tiêu chuẩn này các nhà sản xuất khác nhau có thể sản xuất các thiết bị tương thích với nhau.

o Tổ chức phê chuẩn, cấp chứng nhận: kiểm tra tính tương thích, cấp giấy chứng nhận cho các sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.

Cơ quan quản lý

Tại Việt Nam hiện nay, quản lý chuyên ngành về viễn thông là các cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông. Các cơ quan này chịu trách nhiệm quản lý và tham mưu cho Bộ Thông tin và Truyền thông, nhà nước về lĩnh vực viễn thông dựa trên luật Viễn thông.

Ví dụ, trích trong nghị định 25/2011/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện luật Viễn thông:

“3. Tổ chức, doanh nghiệp sản xuất thiết bị vô tuyến điện để sử dụng tại Việt Nam phải đăng ký và tuân thủ các điều kiện theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

4. Thiết bị vô tuyến điện khi nhập khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất phải được Bộ Thông tin và Truyền thông cho phép.

5. Tổ chức, cá nhân kinh doanh thiết bị vô tuyến điện phải thực hiện quản lý chất lượng viễn thông theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 Nghị định này.”

Tham khảo một số tổ chức quản lý về viễn thông trên thế giới:

Tại Mỹ, tổ chức quản lý về viễn thông là Ủy ban truyền thông liên bang (FCC - Federal Communication Commission). FCC là một cơ quan độc lập trong chính quyền Mỹ, quản lý các vấn đề liên quan đến lĩnh vực truyền thông. Ví dụ, FCC quy định 2 dải băng tần được sử dụng trong chuẩn IEEE 802.11 là 2,4 GHz và 5 GHz. Mọi người được tự do sử dụng 2 dải băng tần này mà không phải xin phép và không phải trả tiền. Tuy nhiên, do mọi người được tự do sử dụng nên có thể dẫn tới các vấn đề cần phải xử lý như: tranh chấp sóng, nhiễu và đảm bảo băng thông trong khu vực triển khai mạng WLAN.

Ngoài ra, FCC còn quy định về công suất đầu ra và vị trí sử dụng (trong nhà, hay ngoài trời) của các dải băng tần. Ví dụ: dải băng tần 2.4 có thể sử dụng cả trong nhà và ngoài trời, công suất phát tối đa tại bộ phát định hướng (intentional radiator) không vượt quá 1W (watt), giá trị này thường nằm trong khoảng từ 30 đến 300 mW (miliwwatt).

Tại Anh, cơ quan quản lý là tổ chức OfCom (Office of Communications).

Tại Nhật, cơ quan quản lý là Bộ thông tin và nội chính Nhật (MIC - Ministry of Internal Affairs and communications).

Trên thế giới, cơ quan điều phối là liên minh viễn thông quốc tế (ITU - International Telecommunication Union), là một tổ chức của liên hợp quốc, trụ sở tại Thụy sĩ, thành lập năm 1947, thành viên gồm các chính phủ và các công ty viễn thông. Mục đích của ITU:

o Giúp các thành viên trong liên minh hợp tác, hoàn thiện và sử dụng viễn thông hiệu quả.

o Phân bổ và quản lý tần số vô tuyến, các vị trí liên quan đến quỹ đạo của vệ tinh địa tĩnh.

o Đưa ra tiêu chuẩn viễn thông thế giới để đảm bảo chất lượng của các dịch vụ.

ITU gồm 1 số bộ phận:

o Thông tin vô tuyến (ITU-R: Radiocommunication) có nhiệm vụ xác định các tần số vô tuyến (radio) toàn cầu đáp ứng lợi ích của các nhóm cạnh tranh nhau.

o Tiêu chuẩn hóa viễn thông (ITU-T: Telecommunications Standardization) tập trung vào các hệ thống điện thoại và truyền thông dữ liệu.

o Phát triển viễn thông (ITU-D: Development) tạo ra cơ chế , điều chỉnh và cung cấp các chương trình đào tạo và các phương án tài chính cho các nước đang phát triển.

Tổ chức quản lý về các chuẩn công nghệ

IEEE

Viện kỹ nghệ điện và điện tử (IEEE: Institute of Electrical and Electronics Engineers): là 1 tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động từ năm 1963, có hơn 360 ngàn thành viên (năm 2010) gồm kỹ sư, nhà khoa học, sinh viên trên toàn thế giới.

Mục đích hoạt động của IEEE nhằm nâng cao đời sống của con người bằng cách khuyến khích mọi người cải tiến về công nghệ điện, điện tử, truyền thông và tin học. Trong lĩnh vực mạng máy tính IEEE có dự án IEEE 802.

Dự án IEEE 802 được chia thành nhiều nhóm, ví dụ: nhóm 802.3 phát triển chuẩn cho mạng Ethernet, nhóm 802.11 phát triển chuẩn cho mạng không dây, nhóm 802.16 phát triển chuẩn cho mạng WiMAX, nhóm 802.20 phát triển chuẩn cho mạng điện thoại không dây.

Đóng góp quan trọng của việc xây dựng các chuẩn là giải quyết vấn đề tương thích giữa các nhà sản xuất thiết bị. Các nhà sản xuất thiết bị khác nhau sẽ tham chiếu vào chuẩn để tạo ra các sản phẩm có thể làm việc được với nhau.

IETF

Nhóm chuyên viên kỹ nghệ Internet (IETF: Internet Engineering Task Force) cũng là 1 tổ chức phát triển các chuẩn có liên quan đến công nghệ mạng không dây. Hai tài liệu quan trọng của nhóm này là RFC 3748 (đề cập đến giao thức chứng thực EAP – Extensible Authentication Protocol) và RFC 2865 (đề cập đến giao thức chứng thực RADIUS)

Tổ chức phê chuẩn, cấp chứng nhận

Liên minh Wi-Fi (Wi-Fi Alliance) được thành lập vào năm 1999 bởi 6 công ty là: 3Com, Aironet, Intersil, Lucent Technologies, Nokia và Symbol Technologies, số thành viên đến năm 2011 là 400 công ty, là 1 tổ chức phi lợi nhuận, có nhiệm vụ cấp giấy chứng nhận cho các thiết bị, giải pháp trong lĩnh vực mạng không dây thông qua quá trình kiểm tra và phân tích tính tương thích. FCC tạo ra các quy định chung, IEEE đưa ra nội dung các chuẩn công nghệ dựa trên các quy định chung của FCC và liên minh Wi-Fi đảm bảo tính tương thích của các thiết bị trong hệ thống mạng không dây, triển khai theo các chuẩn của IEEE. Các sản phẩm đã được liên minh Wi-Fi kiểm tra và cấp chứng nhận sẽ được dán logo của liên minh Wi-Fi (hình bên dưới).

Tiêu chí hoạt động của liên minh Wi-Fi:

o Cung cấp 1 diễn đàn cộng tác hiệu quả giữa các thành viên

o Phát triển nền kỹ nghệ wifi

o Thúc đẩy quá trình phát triển công nghệ bằng các chương trình và các kĩ thuật công nghệ mới

o Hỗ trợ các chuẩn công nghệ đã được phê duyệt

o Cung cấp các sản phẩm kết nối có chất lượng đã được kiểm tra và cấp chứng nhận

-----------------------------------------

Tham khảo:

[8] Tom Carpenter, 2008, CWNA Official Study Guide, Mc Graw-Hill

Đĩa cứng - 6 - Boot Sector dự phòng

(Tiếp theo của đĩa cứng 5)





FSINFO
Ổ đĩa định dạng theo FAT32 thường có dung lượng lớn, để tăng tốc độ xử lý của hệ thống, thông tin về các cluster còn trống hay không gian đĩa còn trống sẽ được lưu trữ tại FSINFO.
Vị trí của FSINFO được lưu trong trường SecFSINFO (byte thứ 48 – 49), tại Boot Sector của ổ đĩa logic.
Trên các hệ thống Windows giá trị này luôn là 1, vậy FSINFO nằm trên sector vật lý: 63 + 1 =  64.
Nội dung của FSINFO được thể hiện trong hình dưới đây.

 Cấu trúc của FSINFO được mô tả trong bảng sau:

Byte thứ
Mô tả
Giá trị ví dụ
0 – 3
Dấu hiệu nhận biết nơi bắt đầu của  FSINFO.
“52 52 61 41”
4 – 483
Vùng dự trữ, chưa sử dụng.

484 - 487
Dấu hiệu nhận biết, nơi bắt đầu của các trường có dữ liệu.
“72 72 41 61”
488 - 491
Cho biết tổng số các cluster còn trống trên ổ đĩa.
- Nếu giá trị là 0xFFFFFFFF: không biết được số các cluster còn trống, hệ thống phải thực hiện việc tính toán.
- Nếu nó mang giá trị khác: số cluster còn trống.
“D0 45 13 00”
=> 1263056 cluster
492 - 495
Cluster kế tiếp còn trống.
Giúp hệ điều hành biết nơi bắt đầu để tìm kiếm các cluster còn trống trên vùng FAT.
Trường này giúp tiết kiệm thời gian cho hệ thống, thay vì phải tìm số hiệu cluster còn trống từ đầu của vùng FAT, từ cluster số 2.
Giá trị này thường là số hiệu của cluster vừa mới được hệ thống cấp phát gần đây nhất.
Nếu giá trị này là 0xFFFFFFFF, có nghĩa là không có giá trị gợi ý và hệ thống phải tìm kiếm từ đầu vùng FAT.
“98 50 00 00”
=> cluster 20632
496 – 507
Vùng dự trữ, chưa sử dụng.

508- 511
Dấu hiệu nhận biết vị trí kết thúc của FSINFO.
“00 00 55 AA”
 
Boot Sector dự phòng
Do tính chất quan trọng của Boot Sector trên mỗi ổ đĩa logic, nên hệ thống FAT32 sử dụng sector 6 làm sector dự phòng cho Boot Sector.
Trong trường hợp Boot Sector bị ghi đè làm mất dữ liệu, các chương trình tiện ích sẽ khôi phục lại dựa vào thông tin tại Boot Sector dự phòng.
Nếu Boot Sector bị hỏng, thông tin tại Boot Sector dự phòng sẽ được sử dụng để giúp người dùng truy cập và lấy lại dữ liệu trước khi thay đĩa khác.
Đối với hệ thống FAT32 vùng được gọi là “Boot Sector” thực tế gồm ba sector đầu tiên, và cả ba sector này đều được lưu dự phòng.
Sector vật lý của Boot Sector dự phòng: 63 + 6 = 69.
Nội dung của Boot Sector dự phòng được minh họa trong hình dưới đây.



---------------------------------
Cập nhật: 2013/4/9

--------------------------------------------------

Tham khảo

[3] FAT32_Hardware White Paper

Nhiều người dùng chung 1 tài khoản gmail

Các tổ chức có sử dụng hộp thư gmail để liên lạc với bên ngoài thường cho phép nhiều người trong tổ chức của mình cùng sử dụng một hộp thư.

Để sử dụng hộp thư gmail này, các tổ chức thường cấp luôn cho mọi người tên đăng nhập (user name) và mật khẩu đăng nhập (password).

Tình huống trên thường dẫn tới 1 số vấn đề:

- Các cá nhân tự tiện thay đổi mật khẩu, giao diện, và các cài đặt khác. Điều này gây ra các rắc rối không cần thiết.

- Người sử dụng phải nhớ nhiều thông tin (tài khoản đăng nhập + mật khẩu của hộp thư tổ chức, tài khoản đăng nhập + mật khẩu của hộp thư cá nhân).

- Mất thời gian trong quá trình sử dụng do phải chuyển qua lại giữa 2 tài khoản (tài khoản của tổ chức và tài khoản của cá nhân).

Để khắc phục các vấn đề trên, có thể sử dụng chức năng ủy quyền sử dụng hộp thư (delegation) của gmail.

Để sử dụng chức năng ủy quyền, tổ chức sẽ chỉ giao tài khoản này cho 1 cá nhân quản lý, cá nhân này sẽ có toàn quyền sử dụng, thay đổi mật khẩu, và các cài đặt khác.

Cá nhân này sẽ thực hiện ủy quyền sử dụng hộp thư của tổ chức cho các cá nhân khác.

Khi đã được ủy quyền, các cá nhân vẫn sẽ đăng nhập vào tài khoản của cá nhân và sử dụng bình thường, khi cần thiết có thể chuyển qua hộp thư của tổ chức một cách thuận tiện, nhanh chóng, không cần nhập mật khẩu, thực hiện đọc thư, gửi thư; tuy nhiên, không được phép đổi mật khẩu và không được thực hiện các cài đặt khác.

Cách thực hiện ủy quyền:

- Đăng nhập vào hộp thư của tổ chức

- Bấm vào biểu tượng hình bánh răng ở góc trên bên phải, chọn mục Settings, chọn mục Accounts and Import

- Trong mục “Grant access to your account”, bấm vào Add another account để nhập các tài khoản được ủy quyền

- Nhập địa chỉ email của người được ủy quyền, bấm Next step, lưu ý, chỉ chấp nhận địa chỉ của gmail.

- Bấm vào mục Send email to grant access để gửi thông tin xác minh tới hộp thư được ủy quyền

- Người được ủy quyền sẽ nhận được thông tin yêu cầu xác minh thông tin này qua email. Người được ủy quyền có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu này, nếu chấp nhận, sau 30 phút quá trình ủy quyền sẽ hoàn tất.

- Để kiểm tra xem việc ủy quyền có thành công hay không, tại hộp thư của tổ chức, vào Settings\Accounts and Import, trong mục Send email as sẽ có danh sách các hộp thư đã được ủy quyền.

Với các tài khoản đã được ủy quyền, trong hộp thư của cá nhân, người sử dụng có thể dễ dàng chuyển qua tài khoản của tổ chức bằng cách bấm vào biểu tượng mũi tên hình tam giác, bên cạnh địa chỉ email, ở góc trên bên phải. Chọn Switch account và chọn địa chỉ email của tổ chức.

Để gở bỏ ủy quyền

- Đăng nhập vào hộp thư của tổ chức

- Bấm vào biểu tượng hình bánh răng ở góc trên bên phải, chọn mục Settings, chọn mục Accounts and Import

- Trong mục “Grant access to your account”, bấm vào delete để xóa tài khoản nào không muốn ủy quyền.

Lê Gia Công

Tham khảo: http://support.google.com/mail/bin/answer.py?hl=en&answer=138350